vanban.org

Bản án 25/2018/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp Tuyên án 22/11/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Đỗ Thị X phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Đỗ Thị X 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án, được trừ đi những ngày tạm giam từ ngày 26/9/2018 đến ngày 28/9/2018. Về xử lý vật chứng: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đỗ Thị X - 249 - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Đỗ Thị X phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HỒNG NGỰ
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 25/2018/HS-ST
Ngày: 22-11-2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỒNG NGỰ, TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Lương Bằng.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Võ Thị Hương Giang.

Ông Nguyễn Tuấn Lam.

- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Tưởng là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Trần Thanh Tùng - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 11 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hồng Ngự, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 23/2018/TLST-HS ngày 07 tháng 11 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 26/2018/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 11 năm 2018 đối với bị cáo:

Đỗ Thị X, sinh năm 1990, tại tỉnh Đồng Tháp; Nơi cư trú: khóm A, phường AT, thị xã HN, tỉnh Đồng Tháp; nghề nghiệp: Mua bán; trình độ văn hóa (học vấn): 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Văn B và bà Phạm Thị L; có chồng Phạm Văn H, sinh năm 1993; có 01 con sinh năm 2014; tiền án: không; tiền sự: không; tạm giam: ngày 26/9/2018 đến ngày 28/9/2018; Thay đổi biện pháp ngăn chặn cho bảo lĩnh: ngày 28/9/2018. Hiện bị cáo đang tại ngoại; có mặt.

- Người làm chứng:

1/ Trần Thị Tăng C; vắng mặt.

2/ Trần Văn P; vắng mặt.

3/ Bùi Thị Như Y; vắng mặt.

4/ Nguyễn Văn S; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 14 giờ 40 phút ngày 06/7/2018, Trần Thị Tăng C điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 66P1 - 293.25 đi xã PTB, huyện HN tìm bạn tên Tuấn (không biết họ, chữ lót và địa chỉ) nên Đỗ Thị X có giang theo tìm bạn tên Hồng (không biết họ, chữ lót và địa chỉ). Lúc này, Đỗ Thị X mang theo 01 bịch nylon hàn kín đầu chứa tinh thể rắn màu xanh là ma túy và 01 bịch nylon hàn kín đầu bên trong chứa chất tinh thể rắn màu nâu, để trong ví đựng tiền, rồi để ví đựng tiền và 01 nỏ thủy tỉnh dùng để sử dụng ma túy vào túi xách màu nâu. C chở X đến đoạn đường thuộc ấp PLB, xã PTB, huyện HN thì bị lực lượng Công an huyện HN phối hợp Công an xã PTB ra tín hiệu dừng phương tiện, kiểm tra phát hiện 02 bịch nylon, trong đó có 01 bịch nylon chứa ma túy và 01 nỏ thủy tỉnh nên lực lượng Công an tiến hành lập biên bản bắt quả tang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy và thu giữ 02 bịch nylon nêu trên.

Vật chứng thu giữ:

- 01 bịch nylon bên trong có chứa các chất bột rắn màu nâu; 01 bịch nylon bên trong có chứa các chất bột rắn màu xanh; được niêm phong trong túi niêm phong. ký hiệu NS3, mã số NS3A 030050 có các chữ ký Nguyễn Qui P và Đỗ Thị X;

- 01 cái nỏ màu trắng bằng thủy tinh;

- 01 cái túi xách màu nâu, bên ngoài có tem mang dòng chữ “USA BASKETBALL”;

- 01 xe mô tô biển kiểm soát 66P1-293.25, số máy 010290, số khung 61010389, nhãn hiệu NEWEI, màu đen xám, đã qua sử dụng.

Tại Kết luận giám định số 480/KL-KTHS ngày 13/7/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Tháp kết luận:

1. Chất bột màu xanh chứa trong 1 bịch nylon hàn kín, được niêm phong trong túi niêm phong nêu trên gửi giám định là chất ma túy, khối lượng 0,2063 gam, loại Methamphetamine (thuộc Danh mục II, số thứ tự 323, Nghị định số 73 ngày 15/5/2018 của Chính phủ).

2. Chất bột màu nâu chứa trong 1 bịch nylon hàn kín, được niêm phong trong cùng túi niêm phong nêu trên gửi giám định không phát hiện thành phần các chất ma túy và tiền chất dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma túy thường gặp, khối lượng 0,7174 gam.

Hoàn trả đối tượng giám định: Chất bột màu xanh còn lại sau giám định có khối lượng 0,1158 gam; chất bộ màu nâu còn lại sau giám định có khối lượng 0,2887 gam. Mẫu vật đã được niêm phong trả cho Cơ quan trưng cầu khi nhận Kết luận giám định.

Kết quả kiểm tra ngày 06/7/2018, Đỗ Thị X dương tính chất ma túy.

Quá trình điều tra Đỗ Thị X khai nhận, chất bột màu xanh là loại ma túy Methamphetamine của người bạn Campuchia cho X và nói là giống như thuốc lắc chơi trong các quán bar nên X biết đó là ma túy. Lúc đầu, chất ma túy này có dạng viên nén màu xanh, sau đó Đỗ Thị X tán nhuyễn thành bột để trong túi nylon trong suốt, hàn kín hai đầu và mang bên người để sử dụng khi bị lên cơn đau bụng. Khi X mang theo bên người, Trần Thị Tăng C không hay biết.

Tại Cáo trạng truy tố số 24/CT-VKSHN ngày 07 tháng 11 năm 2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp truy tố bị cáo Đỗ Thị X về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phần luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa: Căn cứ lời khai nhân chứng và các tài liệu, chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ vụ án, có đủ căn cứ kết luận số ma túy trên là của Đỗ Thị X tàng trữ để sử dụng. Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với Đỗ Thị X là thành khẩn khai báo. Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với Đỗ Thị X: không có.

Đối với người cho Đỗ Thị X ma túy, Đỗ Thị X khai là người Campuchia - không nhớ tên và không biết địa chỉ cụ thể, nên quá trình điều tra không làm việc được, khi nào làm việc được sẽ xử lý sau. Đối với T và H là bạn của Đỗ Thị X và C, không biết họ, chữ lót và địa chỉ cụ thể nên không làm việc được, không đề cập đến trong vụ án này.

Đối với 01 xe mô tô biển kiểm soát 66P1-293.25, số máy 010290, số khung 61010389, nhãn hiệu NEWEI, màu đen xám, đã qua sử dụng. Đây là xe mô tô Trần Thị Tăng C mua của người khác nhưng chưa sang tên, C điều khiển xe chở Đỗ Thị X khi bị bắt quả tang nhưng C không biết là Đỗ Thị X tàng trữ trái phép chất ma túy nên Cơ quan cảnh sát điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng, trao trả lại xe mô tô nói trên cho chủ sở hữu hợp pháp Trần Thị Tăng C. Hiện nay, Trần Thị Tăng C đang điều trị cai nghiện nên uỷ quyền lại cho Lê Thanh H nhận lại tài sản.

Kiểm sát viên đề nghị: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Đỗ Thị X từ 12 đến 15 tháng tù. Về dân sự: Không phát sinh nên không đề cập đến. Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tô tụng hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu tiêu hủy đối với: 01 túi niêm phong ghi số: 480 ngày 13/7/2018, có đóng hình dấu tròn màu đỏ của “Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Đồng Tháp” và các chữ ký ghi họ tên Trương Minh V, Nguyễn Nhạc Tiểu Ch và Phan Nhật M; 01 cái nỏ màu trắng bằng thủy tỉnh; 01 cái túi xách màu nâu, bên ngoài có tem mang dòng chữ “USA BASKETBALLL”.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, thống nhất với cáo trạng truy tố, xin Hội đồng xét xử xem xét, cho bị cáo được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Tại phiên toà sợ thẩm, bị cáo Đỗ Thị X đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như cáo trạng của Viện kiểm sát đã nêu. Vào ngày 06/7/2018, trong quá trình có giang chị Trần Thị Tăng C đi từ thị xã Hồng Ngự đến xã PTB, huyện HN thì bị lực lượng Công an huyện HN phối hợp Công an xã PTB kiểm tra phát hiện bị cáo tàng trữ 01 bịch nylon ma túy trong túi xách của bị cáo, qua kết luận giám định, bịch ma túy có chứa thành phần Methamphetamine với khối lượng được giám định là 0,2063 gam. Lời khai nhận của bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai của người làm chứng và các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Do đó, đã đủ căn cứ kết luận hành vi của bị cáo phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), như sau:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

..............................................................

c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

.............................................................. ”

Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội: Đối với hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo nhận biết được sử dụng ma túy không có tác dụng cho con người, bị cáo hoàn toàn nhận thức được ma túy là chất độc hại, Nhà nước nghiêm cấm mọi hoạt động sản xuất, mua bán, tàng trữ…. trái phép chất ma túy. Nhưng chỉ vì muốn thỏa mãn cơn nghiện bị cáo đã tàng trữ trái phép. Do đó, cần phải có mức hình phạt nghiêm khắc, cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định nhằm giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt và có tác dụng phòng ngừa chung cho xã hội, vì vậy không chấp nhận yêu cầu xin được hưởng án treo của bị cáo.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Bị cáo có tình tiết giảm nhẹ là thành khẩn khai báo, thể hiện sự ăn năn hối cải. Do đó, áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 để giảm nhẹ cho bị cáo khi quyết định hình phạt.

Đối với người cho Đỗ Thị X ma túy, Đỗ Thị X khai là người Campuchia

- không nhớ tên và không biết địa chỉ cụ thể, nên quá trình điều tra không làm việc được, khi nào làm việc được sẽ xử lý sau.

Đối với T và H là bạn của Đỗ Thị X và Trần Thị Tăng C, không biết họ, chữ lót và địa chỉ cụ thể nên không làm việc được, nên không đề cập đến trong vụ án này. Đối với Trần Thị Tăng C khi cho bị cáo Đỗ Thị X có giang thì không biết việc X mang ma túy theo bên người, nên Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét.

Về trách nhiệm dân sự: Không phát sinh, nên Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét.

Về vật chứng:

- Đối với 01 xe mô tô biển kiểm soát 66P1-293.25, số máy 010290, số khung 61010389, nhãn hiệu NEWEI, màu đen xám, đã qua sử dụng. Đây là xe mô tô Trần Thị Tăng C mua của người khác nhưng chưa sang tên, C điều khiên xe chở Đỗ Thị X khi bị bắt quả tang nhưng C không biết là Đỗ Thị X tàng trữ trái phép chất ma túy nên Cơ quan cảnh sát điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng, trao trả lại xe mô tô nói trên cho chủ sở hữu hợp pháp Trần Thị Tăng C. Hiện nay, Trần Thị Tăng C đang điều trị cai nghiện nên uỷ quyền lại cho Lê Thanh H nhận lại tài sản, nên Cơ quan điều tra giao cho anh H, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

- Đối với 01 túi niêm phong ghi số: 480 ngày 13/7/2018, có đóng hình dấu tròn màu đỏ của “Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Đồng Tháp” và các chữ ký ghi họ tên Trương Minh V, Nguyễn Nhạc Tiểu Ch và Phan Nhật M; 01 cái nỏ màu trắng bằng thủy tỉnh; 01 cái túi xách màu nâu, bên ngoài có tem mang dòng chữ “USA BASKETBALLL”. Xét thấy, đây là tang vật của vụ án, Hội đồng xét xử nghĩ nên tịch thu tiêu hủy là phù hợp.

Về án phí sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 và Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án để buộc bị cáo phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định.

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng quy định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến và khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); điểm a khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Tuyên bố: Bị cáo Đỗ Thị X phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Xử phạt bị cáo Đỗ Thị X 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án, được trừ đi những ngày tạm giam từ ngày 26/9/2018 đến ngày 28/9/2018.

3. Về xử lý vật chứng:

3.1. Tịch thu tiêu hủy: 01 túi niêm phong ghi số: 480 ngày 13/7/2018, có đóng hình dấu tròn màu đỏ của “Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Đồng Tháp” và các chữ ký ghi họ tên Trương Minh V, Nguyễn Nhạc Tiểu Ch và Phan Nhật M.

3.2. Tịch thu tiêu hủy: 01 cái nỏ màu trắng bằng thủy tỉnh.

3.3. Tịch thu tiêu hủy: 01 cái túi xách màu nâu, bên ngoài có tem mang dòng chữ “USA BASKETBALLL”.

Những vật chứng trên hiện Chi cục thi hành án dân sự huyện Hồng Ngự đang quản lý.

4. Về án phí: Buộc bị cáo Đỗ Thị X phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo đối với bản án: Bị cáo có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (22/11/2018).

6. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án được thực hiện theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án Dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ