- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị H về việc “Không công nhận vợ chồng”.
- Căn cứ chính? Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN Q. THANH KHÊ - TP. ĐÀ NẴNG Bản án số 25/2018/HNGĐ-ST | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Ngày: 24-5-2018 V/v “Ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ - TP. ĐÀ NẴNG
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Đặng Ngọc Cường
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Thu Huệ và bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh.
Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Minh Tâm - Thư ký Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê tham gia phiên toà: Ông Trương Quang Vương - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 5 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thanh Khê thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và Gia đình thụ lý số 57/2018/TLST-HNGĐ ngày 05tháng 02 năm 2018, về việc “Không công nhận vợ chồng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 57/2018/QĐXX-ST ngày 08 tháng 5 năm 2018 giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Bà Phạm Thị H, sinh năm 1988; Trú tại: K45B D, tổ 36, phường Thanh Khê Tây, thành phố Đà Nẵng
* Bị đơn: Ông Phạm Đ, sinh năm 1983; Trú tại: K79 đường D, phường Thanh Khê Tây, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.
(Các đương sự có mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Trong đơn khởi kiện, trong bản tự khai và tại buổi làm việc, nguyên đơn là bà Phạm Thị H trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Vào năm 2015, tôi và ông Phạm Đ có làm đám cưới và chung sống với nhau như vợ chồng nhưng không đăng ký kết hôn. Trong thời gian chung sống, chúng tôi phát sinh nhiều mâu thuẫn, chúng tôi không có hạnh phúc, tình cảm vợ chồng không còn. Nay tôi không thể chung sống với ông Đ được nữa nên đề nghị Tòa án không công nhận vợ chồng giữa tôi và ông Phạm Đ.
- Về quan hệ con chung: Chúng tôi có 01 con chung chưa thành niên tên Phạm Quốc H, sinh ngày 22/8/2016.
Tôi trực tiếp nuôi con chung chưa thành niên và không yêu cầu ông Phạm Đ cấp dưỡng nuôi con.
Tôi không đồng ý cho ông Phạm Đ thăm con chung.
- Tài sản chung: Không có
- Nợ chung: Không có.
* Trong bản tự khai, tại buổi làm việc và tại phiên tòa hôm nay bị đơn ông Phạm Đ trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Vào năm 2015, tôi và bà Phạm Thị H chung sống với nhau như vợ chồng (chúng tôi có tổ chức đám cưới như ng không đăng ký kết hôn). Nay bà H yêu cầu Tòa án không công nhận vợ chồng giữa tôi và bà H thì tôi đề nghị Tòa án căn cứ theo pháp luật để giải quyết.
- Về con chung: Chúng tôi có 01 con chung là Phạm Quốc H, sinh ngày 22/8/2016.
Tôi sẽ giao con chung chưa thành niên cho bà Phạm Thị H trực tiếp nuôi con và tôi không cấp dưỡng nuôi con chung.
Tôi yêu cầu được quyền thăm nom con chung theo quy định của pháp luật.
- Tài sản chung: Không có
- Nợ chung: Không có.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng đã xác định: Những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Những người tham gia tố tụng đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng. Đối với nội dung vụ án, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố không công nhận vợ chồng giữa nguyên đơn bà Phạm Thị H và bị đơn ông Phạm Đ; giao con chung chưa thành niên cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng, ông Đ không cấp dưỡng nuôi con chung.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN :
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Tranh chấp giữa bà Phạm Thị H và ông Phạm Đ là tranh chấp về hôn nhân gia đình, bị đơn có địa chỉ cư trú ở địa bàn quận Thanh Khê nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Thanh Khê theo quy định tại khoản 7 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân dự.
Về nội dung vụ án:
Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Thị H và ông Phạm Đ chung sống như vợ chồng vào năm 2015 không làm thủ tục đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật, đây là hôn nhân vi phạm thủ tục kết hôn. Nay bà H yêu cầu Tòa án không công nhận bà và ông Phạm Đ là vợ chồng. Trong quá trình giải quyết và tại phiên tòa hôm nay, ông Đ cũng đồng ý theo yêu cầu của bà H . Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 điều 14, khoản 2 điều 53 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 để không công nhận ông Phạm Đ và bà Phạm Thị H là vợ chồng.
: Về con chung: Trong thời gian chung sống, ông Đ và bà H có 01 con chung tên Phạm Quốc H, sinh ngày 22/08/2016. Quá trình giải quyết vụ án, ông Đ và bà H thỏa thuận giao con chung cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con chung thành niên (đủ 18 tuổi), ông Đ không phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con. Hội đồng xét xử xét thấy sự thỏa thuận của các đương sự về việc nuôi con chung là tự nguyện và không trái pháp luật nên chấp nhận.
Về tài sản chung và nợ chung: Ông Đ, bà H xác đinh không có nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm bà Phạm Thị H phải chịu 300.0000đ.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 14, khoản 2 Điều 53, Điều 81, 82 và 83 Luật hôn nhân gia đình.
- Căn cứ vào Nghị Quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị H về việc “Không công nhận vợ chồng”.
2. Xử:
* Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận bà Phạm Thị H và ông Phạm Đ là vợ chồng.
* Về con chung: Công nhận sự thỏa thuận về việc nuôi con chung giữa ông Phạm Đ và bà Phạm Thị H như sau:
Giao con chung chưa thành niên tên là Phạm Quốc H, sinh ngày 22/08/2016 cho bà Phạm Thị H trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi, ông Phạm Đ không phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con.
Bên không trực tiếp nuôi con vẫn còn mọi quyền và nghĩa vụ đối với con chung theo quy định của pháp luật.
* Về tài sản chung, về nợ chung: Không có.
3. Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm 300.000 đồng bà Phạm Thị H phải chịu, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà H đã nộp theo biên lai số 8012 ngày 05.02.2018 của Chi cục thi hành án dân sự quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng. Bà H đã nộp đủ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
Án xử công khai, nguyên đơn, bị đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND Q. Thanh Khê; - Chi cục THSDS Q. Thanh Khê; - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN- CHỦ TÒA PHIÊN TÒA Đặng Ngọc Cường |