vanban.org

Bản án 25/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Hồ Thị Q được ly hôn anh Trương Xuân H.

Về con chung: Vợ chồng có hai con chung Trương Thị Thúy Ng, sinh ngày 01/6/1998 và Trương Văn N, sinh ngày 18/12/2000 hiện hai cháu đã lớn, trưởng thành lao động bình thường nên không xem xét. Về quan hệ tài sản chung và các quyền nghĩa vụ liên quan đến tài sản: Không xem xét giải quyết. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bản án ly hôn sơ thẩm số 25/2018/HNGĐ-ST ngày 29/06/2018 giữa chị Hồ Thị Q và anh Trương Xuân H"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Hồ Thị Q được ly hôn anh Trương Xuân H.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN DIỄN CHÂU
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:25 /2018/HNGĐ-ST
Ngày:29/6/2018
V/v: “Tranh chấp hôn nhân gia đình"

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU, TỈNH NGHỆ AN

Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: ông Nguyễn Quang Trung.

Các Hội thẩm nhân dân: ông Hoàng Minh Phương và ông Lê Việt Dũng.

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Phạm Xuân Quảng - Cán bộ Tòa án nhân dân huyện Diễn Châu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu tham gia phiên toà: Không.

Ngày 29 tháng 6 năm 2018, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Diễn châu, tỉnh Nghệ An đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 58/2018/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 3 năm 2018 về “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 83/2018/QĐXXST - HNGĐ ngày 14 tháng 6 năm 2018 và quyết định hoãn phiên tòa số: 20/2018/QĐST – HNGĐ ngày 13 tháng 6 năm 2018, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Hồ Thị Q, sinh năm 1980.

Trú tại: xóm 5, xã DTr, huyện D, tỉnh Nghệ An. Có mặt

- Bị đơn: Anh Trương Xuân H, sinh năm 1976.

Địa chỉ: xóm 1 Nam, xã DTr, huyện D, Nghệ An. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 20 tháng 3 năm 2018 và lời khai tại Tòa án, nguyên đơn chị Hồ Thị Q trình bày: Chị và anh Trương Xuân H kết hôn với nhau ngày 26 tháng 6 năm 1997. Hôn nhân có tìm hiểu, trên cơ sở tự nguyện hợp pháp. Đăng ký kết hôn tại UBND xã DTr, huyện D. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc bình thường nhưng sang năm 2014 thì vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là trong cuộc sống vợ chồng có nhiều va chạm, vợ chồng bất đồng trong quan điểm sống. Anh H là người chồng sống không có trách nhiệm với gia đình, không quan tâm chăm lo gia đình nên vợ chồng có nhiều mâu thuẫn trầm trọng. mâu thuẫn chị đã níu kéo, trao đổi để vợ chồng quay về đoàn tụ sinh sống nhưng anh H không nghe mà vẫn chứng nào tật nấy. Đến năm 2016 vợ chồng tôi sống ly thân nhau cho đến nay, không còn quan tâm đi lại chăm sóc nhau. Nay xét tình cảm vợ chồng không còn chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Trương Xuân H.

- Về con chung: Vợ chồng có hai con chung Trương Thị Thúy Ng, sinh ngày 01/6/1998 và Trương Văn N, sinh ngày 18/12/2000 hiện hai cháu đã lớn, trưởng thành lao động bình thường không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung: Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu tòa án giải quyết.

- Về nợ: Không yêu cầu tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Trương Xuân H vắng mặt nhưng tại bản khai ngày 23 tháng 3 năm 2018 và quá trình hòa giải tại tòa án anh H trình bày: Anh Thống nhất với chị Q về thời gian và địa điểm đăng ký kết hôn. Sau ngày cưới vợ chồng chung sống hạnh phúc bình thường. Quá trình chung sống đến năm 2014 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình không hợp nhau, vợ chồng bất đồng trong quan điểm sống nên thường có mâu thuẫn, đến năm 2016 vợ chồng sống ly thân nhau cho đến nay, từ khi ly thân vợ chồng không còn liên lạc, trao đổi đi lại với nhau. Nay chị Q làm đơn xin ly hôn anh tại Tòa án nhân dân huyện D, anh cho rằng hiện các con đã lớn, trưởng thành, vợ chồng cần đoàn tụ chăm sóc nhau nên anh không nhất trí ly hôn và yêu cầu tòa án hòa giải để vợ chồng về chung sống với nhau.

- Về con chung: Vợ chồng có hai con chung Trương Thị Thúy Ng, sinh ngày 01/6/1998 và Trương Văn N, sinh ngày 18/12/2000 hiện hai cháu đã lớn, trưởng thành lao động bình thường không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung: Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu tòa án giải quyết.

- Về nợ: Không yêu cầu tòa án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, ý kiến trình bày của nguyên đơn Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thẩm quyền: Đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015 thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa án.

Về thủ tục tố tụng: Bị đơn anh Trương Xuân H vắng mặt tại phiên tòa, nhưng quá trình làm việc, hòa giải tại tòa án, tòa án đã tiến hành hòa giải, lập biên bản phiên họp về việc tiếp cận công khai chứng cứ theo quy định tố tụng Dân sự. Tại phiên tòa thứ nhất vào ngày 13 tháng 6 năm 2018 anh Trương Xuân H đã được tống đạt quyết định đưa vụ án ra xét xử, giấy triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do nên tòa án đã hoãn phiên tòa. Tại phiên tòa hôm nay, anh Trương Xuân H đã được tống đạt quyết định đưa vụ án ra xét xử, giấy triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do nên áp dụng khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015 tiến hành xét xử vắng mặt anh Trương Xuân H.

Xét cuộc hôn nhân giữa chị Hồ Thị Q và anh Trương Xuân H là hôn nhân tự nguyện, hợp pháp, có đăng ký kết hôn tại UBND xã DTr, huyện D. Sau khi kết hôn, vợ chồng về chung sống đến năm 2014 thì xảy ra mâu thuẫn, Nguyên nhân do tính tình không hợp, vợ chồng bất đồng trong quan điểm sống. Anh H là người chồng sống không có trách nhiệm với gia đình, không quan tâm chăm lo gia đình nên vợ chồng có nhiều mâu thuẫn trầm trọng. mâu thuẫn chị đã níu kéo, trao đổi để vợ chồng quay về đoàn tụ sinh sống nhưng anh H không nghe mà vẫn chứng nào tật nấy. Đến năm 2016 vợ chồng sống ly thân cắt đứt mọi quan hệ không còn đi lại, quan tâm chăm sóc nhau. Tại phiên tòa hôm nay, chị Q vẫn giữ nguyên quan điểm đề nghị tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh H, anh H vắng mặt. Xét thấy tình trạng hôn nhân giữa chị Q và anh H đã thật sự trầm trọng. Mâu thuẫn giữa hai vợ chồng là có thật và vợ chồng đã ly thân, cắt đứt mọi tình cảm không còn đi lại, quan tâm đến nhau. Tại buổi hòa giải anh H cũng thừa nhận vợ chồng có mâu thuẫn, thời gian mâu thuẫn đã lâu nhưng vợ chồng không hòa hợp được với nhau. Đời sống chung chấm dứt, mục đích hôn nhân không còn. Hội đồng xét xử thấy cần chấp nhận yêu cầu của chị Q, xử cho chị Hồ Thị Q được ly hôn anh Trương Xuân H theo quy định tại khoản 1 Điều 56 luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về con chung: Vợ chồng thống nhất có hai con chung Trương Thị Thúy Ng, sinh ngày 01/6/1998 và Trương Văn N, sinh ngày 18/12/2000 hiện hai cháu đã lớn, trưởng thành lao động bình thường không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về quan hệ tài sản chung và các quyền nghĩa vụ liên quan đến tài sản: Không yêu cầu tòa án giải quyết.

Về án phí: Chị Q phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: khoản 1 Điều 28, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; khoản 1 điều 56, Điều 57 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. điểm a, khoản 5 điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14.

Xử:

- Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Hồ Thị Q được ly hôn anh Trương Xuân H.

- Về con chung: Vợ chồng có hai con chung Trương Thị Thúy Ng, sinh ngày 01/6/1998 và Trương Văn N, sinh ngày 18/12/2000 hiện hai cháu đã lớn, trưởng thành lao động bình thường nên không xem xét.

- Về quan hệ tài sản chung và các quyền nghĩa vụ liên quan đến tài sản: Không xem xét giải quyết.

- Án phí: Buộc chị Hồ Thị Q phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm. Nhưng được khẩu trừ vào khoản tiền dự phí đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện D theo biên lai số 0004480 ngày 22/3/2018. Chị Q đã nộp đủ án phí DSST.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt nguyên đơn chị Hồ Thị Q. chị Hồ Thị Q được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Đối với bị đơn anh Trương Xuân H vắng mặt có quyền kháng cáo lên tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ