- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vương Chung Minh C - Nguyễn Thành N"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của chị Vương Chung Minh C. Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 26/2018/HNGĐ-ST ngày 27 tháng 3 năm 2018 của Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng.
- Căn cứ chính? Điều 29 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG —————————— | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 25/2018/HNGĐ-PT Ngày: 27-6-2018 V/việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Hoài Sơn
Các Thẩm phán:
Bà Đỗ Thị Thúy Năng
Bà Thái Thị Phi Yến
- Thư ký phiên tòa: Ông Ngô Đức Tài - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Lương Thị Chung - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 6 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 07/2018/TLPT-HNGĐ ngày 14 tháng 5 năm 2018, về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 26/2018/HNGĐ-ST ngày 27 tháng 3 năm 2018 của Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 42/2018/QĐPT-HNGĐ ngày 01 tháng 6 năm 2018 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Vương Chung Minh C - sinh năm: 1988. Địa chỉ: Số 192 đường N, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng. Có mặt.
2. Bị đơn: Anh Nguyễn Thành N - sinh năm: 1988. Địa chỉ: Số 18 đường Đ, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng. Có mặt.
3. Người kháng cáo: Chị Vương Chung Minh C là nguyên đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo bản án sơ thẩm, nội dung vụ án như sau:
* Nguyên đơn chị Vương Chung Minh C trình bày:
+ Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Thành N tự nguyện kết hôn vào năm 2012, có đăng ký kết hôn tại UBND phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng. Sau khi kết hôn vợ chồng về sống tại số 18 Đ, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng là nhà cha mẹ anh N. Sau khi chị C sinh con đầu lòng, giữa chị và anh N đã phát sinh nhiều mâu thuẩn. Nguyên nhân là do anh N thường xuyên chơi bài bạc, cá độ bóng đá nhiều lần phải trốn nhà để đi trốn nợ, ngoài ra anh N còn nhiều lần đánh đập chị. Vợ chồng không còn sống chung với nhau từ nhiều tháng nay và hiện tại chị đã đưa hai con về nhà ở cùng cha mẹ tại số 192 đường N, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng. Nay chị xác định không còn tình cảm với anh N, không thể hàn gắn được nên yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn với anh N.
+ Về con chung: Có 02 con chung là Nguyễn Vương Bảo Hân - sinh ngày: 15/3/2013 và Nguyễn Thành Nhân - sinh ngày: 15/10/2014.
Ly hôn, chị C có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng hai con và yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi 02 con mỗi tháng 3.000.000đồng (1.500.000đồng/01 con/tháng).
+ Về tài sản chung, nợ chung: Không có và không nợ ai.
* Bị đơn anh Nguyễn Thành N trình bày:
+ Về quan hệ hôn nhân: Anh thống nhất với lời trình bày của chị Vương Chung Minh C về thời gian và điều kiện kết hôn. Về nguyên nhân mâu thuẩn là do bất đồng về quan điểm sống, bản thân anh cũng có cá độ bóng đá nhưng đến nay đã tu chí làm ăn. Việc chị C cho rằng anh nhiều lần đánh đập chị là không có, chỉ là cải vã và vợ chồng có xô xát lẫn nhau, anh cho rằng hiện tại chị C không còn tình cảm và yêu cầu ly hôn thì anh sẽ đồng ý.
+ Về quan hệ con chung: Có 02 con chung là Nguyễn Vương Bảo Hân - sinh ngày: 15/3/2013 và Nguyễn Thành Nhân - sinh ngày: 15/10/2014.
Ly hôn, anh có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung Nguyễn Thành Nhân và giao chị C nuôi dưỡng con chung Nguyễn Vương Bảo Hân. Không ai phải cấp dưỡng nuôi con.
+ Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không nợ ai.
Với nội dung nêu trên tại Bản án dân sự sơ thẩm số 26/2018/HNGĐ-ST ngày 27 tháng 3 năm 2018 của Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng đã Quyết định:
Căn cứ các Điều 55, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân gia đình; khoản 4 Điều 147, Điều 235, Điều 266 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Vương Chung Minh C và anh Nguyễn Thành N.
2. Về quan hệ con chung: Xử giao con Nguyễn Vương Bảo Hân - sinh ngày 15/3/2013 cho chị Vương Chung Minh C trực tiếp nuôi dưỡng. Giao con chung Nguyễn Thành Nhân - sinh ngày 15/10/2014 cho anh Nguyễn Thành N trực tiếp nuôi dưỡng. Không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con.
Khi vì lợi ích con chung, các bên đương sự được thực hiện quyền và nghĩa vụ với con chung theo quy định của pháp luật.
3. Về quan hệ tài sản chung, nợ chung: Chị Vương Chung Minh C và anh Nguyễn Thành N không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
4. Án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000đồng chị Vương Chung Minh C phải chịu, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đồng đã nộp tại biên lai thu số 009966 ngày 23/11/2017 của Chi cục Thi hành án Dân sự quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng (chị Châu đã nộp đủ án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm).
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn giải thích về quyền kháng cáo, quyền và nghĩa vụ thi hành án theo pháp luật thi hành án dân sự.
Sau khi xét xử sơ thẩm không đồng ý với Bản án sơ thẩm, ngày 10/4/2018 chị Vương Chung Minh C có đơn kháng cáo, đề nghị Tòa án án nhân dân thành phố Đà Nẵng xem xét giao hai con chung cho chị nuôi dưỡng với lý do sẽ đảm bảo đủ điều kiện cho sự phát triển toàn diện của các cháu.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, sau khi đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến, Hội đồng xét xử nhận định:
Xét kháng cáo của chị Vương Chung Minh C xin được nuôi 02 con chung, thì thấy:
Giữa chị Vương Chung Minh C và anh Nguyễn Thành N có 02 con chung là Nguyễn Vương Bảo Hân - sinh ngày 15/3/2013 và Nguyễn Thành Nhân
- sinh ngày 15/10/2014.
Tại phiên tòa, chị C xin được nuôi 02 con chung với lý do các con hiện nay chị đang trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục nên sẽ đảm bảo đủ điều kiện cho sự phát triển toàn diện của các con. Ngoài ra, cháu Nhân từ nhỏ đã bị bệnh hen phế quản nên cần được sự chăm sóc của mẹ khi đau ốm và bản thân chị là nhân viên y tế nên có điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Nhân khi ốm đau trong khi điều kiện hoàn cảnh, kinh tế, thu nhập của anh N không đảm bảo cho việc cho việc nuôi con chung. Còn anh N xác định có việc làm thu nhập, nơi sống ổn định, đủ điều kiện để nuôi dạy con chung nên xin được nuôi cháu Nhân.
Hội đồng xét xử xét thấy: Các con chung giữa chị C và anh N đều còn rất nhỏ, đang ở với chị C và do chị C trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, cháu Nhân bị bệnh hen phế quản cần có sự cần sự quan tâm trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng của người mẹ. Hơn nữa, chị C đang là nhân viên y tế của Trung tâm y tế quận Thanh Khê nên có điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng khi các con ốm đau hơn anh N. Cũng tại phiên tòa, anh N thừa nhận một phần nguyên nhân vợ chồng ly hôn là do trước đây anh có cá độ bóng đá nên gây ra nợ nần. Do đó, để đảm bảo quyền lợi mọi mặt của các con và không làm xáo trộn cuộc sống sinh hoạt của các cháu, Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải giao mỗi người nuôi mỗi con như bản án sơ thẩm nên cần chấp nhận kháng cáo của chị C, sửa án sơ thẩm của Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng giao 02 con chung cho chị C trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với các Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình.
Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung chị C không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đề cập đến.
Sau khi ly hôn, nếu có căn cứ chứng minh chị C không đủ điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung thì anh N có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết việc thay đổi người trực tiếp nuôi con theo quy định tại Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình.
Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát thành phố Đà Nẵng phát biểu việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm. Đồng thời, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự, chấp nhận kháng cáo của chị Vương Chung Minh C, sửa nguyên bản án sơ thẩm giao 02 con chung cho chị C nuôi dưỡng. Hội đồng xét xử xét thấy đề nghị của Kiểm sát viên là có căn cứ nên chấp nhận.
Về án phí Hôn nhân gia đình phúc thẩm: Do kháng cáo của chị Vương Chung Minh C được chấp nhận nên chị C không phải chịu án phí phúc thẩm.
Các phần quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: - Khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự;
- Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình;
- Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận kháng cáo của chị Vương Chung Minh C. Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 26/2018/HNGĐ-ST ngày 27 tháng 3 năm 2018 của Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng.
1. Về quan hệ con chung:
Giao cho chị Vương Chung Minh C trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung Nguyễn Vương Bảo Hân - sinh ngày: 15/3/2013 và Nguyễn Thành Nhân - sinh ngày 15/10/2014. Anh Nguyễn Thành N không phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con.
Khi vì lợi ích con chung, các bên đương sự được thực hiện quyền và nghĩa vụ với con chung theo quy định của pháp luật.
2. Án phí Hôn nhân gia đình phúc thẩm: 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng), chị Vương Chung Minh C không phải chịu. Hoàn cho chị Vương Chung Minh C số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng) đã nộp tại biên lai thu số 0001498 ngày 24/4/2018 của Chi cục Thi hành án Dân sự quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng.
3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
4. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - TAND quận Hải Châu; - Chi cục THADS quận Hải Châu; - VKSND TP Đà Nẵng; - UBND phường Hòa Cường Nam; - Lưu tổ nghiệp vụ; - Lưu hồ sơ vụ án; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Hoài Sơn |