- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Trương Tấn T - Lâm Thị L"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của anh Trương Tấn T.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| Bản án số: 25/2018/HNGĐ-PT Ngày: 17 - 7 - 2018 V/v ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Cao Khánh
Các Thẩm phán:
Ông Nguyễn Thành Lập
Ông Chung Văn Kết
- Thư ký phiên tòa: Bà Hồ Yến Phương là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Dẽ - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 7 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 16/2018/TLPT-HNGĐ ngày 11 tháng 4 năm 2018 về việc “Ly hôn”.
Do bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 29/2018/HNGĐ-ST ngày 08 tháng 3 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 145/2018/QĐ-PT ngày 11 tháng 6 năm 2018 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Trương Tấn T - sinh năm 1980 (có mặt);
Địa chỉ: Ấp C, thị trấn H, huyện H1, tỉnh B.
- Bị đơn: Chị Lâm Thị L - sinh năm 1985 (có mặt);
Địa chỉ: Ấp 2, xã T, huyện T1, tỉnh C.
- Người kháng cáo: Anh Trương Tấn T là nguyên đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Về hôn nhân: Anh T và chị L tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn H, huyện H1, tỉnh B vào ngày 23/6/2009. Vợ chồng chung sống hạnh phúc một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm với nhau trong cuộc sống trong gia đình. Anh T và chị L đã ly thân từ tháng 3/2017 đến nay. Do cuộc sống không hạnh phúc nên anh T yêu cầu ly hôn với chị L.
Về con chung: Anh T và chị L có ba người con chung tên Trương Lâm Phúc K, sinh ngày 19 tháng 02 năm 2010 (giới tính nam), Trương Lâm Phúc H, sinh ngày 01 tháng 3 năm 2012 (giới tính nam), Trương Lâm Phúc K1, sinh ngày 09 tháng 7 năm 2015 (giới tính nam). Con chung do chị L nuôi dạy từ khi anh T và chị L ly thân đến nay. Khi ly hôn, anh T yêu cầu nuôi dạy con chung, không yêu cầu chị L cấp dưỡng nuôi con.
Chị L đồng ý ly hôn với anh T và yêu cầu được trực tiếp nuôi dạy 03 con chung, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.
Tại bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 29/2018/HNGĐ-ST ngày 08/3/2018, Tòa án nhân dân huyện Thới Bình đã quyết định:
1.Về hôn nhân: Anh Trương Tấn T được ly hôn với chị Lâm Thị L.
2.Về con chung: Giao cháu Trương Lâm Phúc K, sinh ngày 19 tháng 02 năm 2010 (giới tính nam), Trương Lâm Phúc H, sinh ngày 01 tháng 3 năm 2012 (giới tính nam), Trương Lâm Phúc K1, sinh ngày 09 tháng 7 năm 2015 (giới tính nam) cho chị Lâm Thị L tiếp tục nuôi dạy. Anh Trương Tấn T không phải cấp dưỡng nuôi con. Anh T không trực tiếp nuôi dạy con chung nH anh có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được quyền cản trở.
3.Về tài sản chung và nợ chung: Không có.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo theo quy định.
Ngày 22 tháng 3 năm 2018, anh Trương Tấn T có đơn kháng cáo bản án sơ thẩm đối với phần con chung, anh T yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem xét giải quyết cho anh được quyền nuôi dạy các con.
Tại phiên tòa phúc thẩm, anh T giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, anh yêu cầu được nuôi 02 con tên Trương Lâm Phúc H và Trương Lâm Phúc K1.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau phát biểu:
Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử tiến hành đúng theo quy định của pháp luật tố tụng và các đương sự cũng chấp hành đúng với quyền và nghĩa vụ của các đương sự được pháp luật quy định;
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 01 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của anh Trương Tấn T, giữ nguyên bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Thới Bình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Đối với các quyết định của án sơ thẩm về hôn nhân, về tài sản chung, nợ chung và cấp dưỡng các đương sự không kháng cáo, Viện kiểm sát không kháng nghị nên đã phát sinh hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Xét kháng cáo của anh Trương Tấn T yêu cầu được quyền nuôi dưỡng các con chung, thấy rằng:
Anh T và chị L có ba người con chung tên Trương Lâm Phúc K, sinh ngày 19 tháng 02 năm 2010 (giới tính nam), Trương Lâm Phúc H, sinh ngày 01 tháng 3 năm 2012 (giới tính nam), Trương Lâm Phúc K1, sinh ngày 09 tháng 7 năm 2015 (giới tính nam). Từ khi anh, chị ly thân đến nay các cháu sống với chị L. Tại phiên tòa phúc thẩm, anh T thừa nhận chị L có khoản tiền để đảm bảo cuộc sống của các con trong một thời gian, anh cũng xác định các con được đi học bình thường.
Tại phiên xử, anh T xác định ngoài con chung với chị L, anh còn phải cấp dưỡng nuôi con riêng (với người vợ trước khi cưới chị L). Thu nhập hiện tại của anh T khoảng 07 triệu đồng/tháng. Xét với mức thu nhập và việc anh còn phải cấp dưỡng nuôi con riêng, sẽ không đảm bảo anh nuôi các con chung tốt hơn chị L. Ngoài ra, anh T cũng xác định từ khi không còn chung sống với chị L (tháng 3 năm 2017) đến nay, anh chỉ đến thăm con 05 lần, cho các con được 600.000đ (sáu trăm ngàn đồng) và vài thùng sữa, điều này cho thấy anh T không thật sự lo tốt cho các con chung với chị L.
Bên cạnh đó, tại thời điểm hiện nay, cháu K1 và cháu H vẫn còn rất nhỏ nên rất cần sự quan tâm chăm sóc của mẹ, đối với cháu K trên 07 tuổi có nguyện vọng được sống với mẹ (thể hiện tại biên bản làm việc ngày 21/9/2017 của Tòa án nhân dân huyện Thới Bình và biên bản xác minh và làm việc ngày 05/6/2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau). Chị L cũng xác định là chị không cấm cản việc thăm con và nuôi con của anh T, sau này các con lớn nếu có nguyện vọng sống cùng cha thì chị đồng ý.
Mặt khác, quá trình giải quyết ở cấp sơ thẩm anh T không chứng minh được thu nhập và chỗ ở ổn định nên cấp sơ thẩm giải quyết giao con chung cho chị L trực tiếp nuôi. Mặc dù hiện tại anh T có cung cấp cho Tòa án Hợp đồng lao động mới và Đơn xác nhận về việc anh được cha mẹ tặng cho căn nhà nhưng các chứng cứ đó không chứng minh rằng chị L không đủ điều kiện trực tiếp nuôi dạy các con. Sau này nếu anh T có chứng cứ chứng minh cho rằng chị L không còn đủ điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục các con hoặc đến khi các con trên 07 tuổi và có nguyện vọng muốn sống cùng anh thì anh T có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con theo quy định tại Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình.
Do đó, căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của các cháu, xét thấy việc chia tách các cháu không có căn cứ vững chắc là các cháu sẽ có được sự chăm sóc, nuôi dưỡng tốt hơn, mà trước mắt còn làm xáo trộn cuộc sống, ảnh hưởng tâm sinh lý của các cháu. Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử thống nhất với ý kiến của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau, không chấp nhận kháng cáo của anh Trương Tấn T, giữ nguyên bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Thới Bình.
Về án phí phúc thẩm, anh Trương Tấn T phải chịu.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của anh Trương Tấn T.
Giữ nguyên bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 29/2018/HNGĐ-ST ngày 08 tháng 3 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau.
Về con chung: Giao cháu Trương Lâm Phúc K, sinh ngày 19 tháng 02 năm 2010 (giới tính nam), Trương Lâm Phúc H, sinh ngày 01 tháng 3 năm 2012 (giới tính nam), Trương Lâm Phúc K1, sinh ngày 09 tháng 7 năm 2015 (giới tính nam) cho chị Lâm Thị L tiếp tục nuôi dạy. Anh Trương Tấn T không phải cấp dưỡng nuôi con. Anh T không trực tiếp nuôi dạy con chung nhưng anh có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được quyền cản trở.
Án phí phúc thẩm: Anh Trương Tấn T phải chịu 300.000 đồng, anh T đã dự nộp 300.000 đồng theo Biên lai số 0005376 ngày 30/3/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thới Bình, được chuyển thu.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau; - Tòa án nhân dân huyện Thới Bình; - Chi cục THADS huyện Thới Bình; - UBND TT. H, huyện H1, tỉnh B; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ; - Lưu án văn; - Lưu VT, (TM:TANDTCM). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Đỗ Cao Khánh |