vanban.org

Bản án 25/2018/HNGĐ-PT — Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

TAND tỉnh Thái Bình Tuyên án 01/11/2018 Hôn nhân và gia đình Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 01/11/2018 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của anh Đoàn Văn H.

Sửa bản án sơ thẩm số 37/2018/HNGĐ-ST ngày 18/6/2018 của Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình. Giao con chung Đoàn Trần Minh Đ, sinh ngày 24/10/2013 cho anh Đoàn Văn H trực tiếp nuôi dưỡng. Anh H không yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh. Chị H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn — án hôn nhân và gia đình — "Thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn H - H"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của anh Đoàn Văn H.
  • Căn cứ chính? Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 29 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH THÁI BÌNH
Bản án số: 25/2018/HNGĐ-PT
Ngày 01 - 11 - 2018
V/v tranh chấp về thay đổi người
trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn
giữa anh H và chị H

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG H XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lương Hải Yến

Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Thanh Bình;

Bà Nguyễn Thị Phương Thảo

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Bình – Thư ký Tòa án

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Vân Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 01 tháng 11 năm 2018 tại phòng xét xử - Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 24/2018/TLPT-HNGĐ ngày 01 tháng 8 năm 2018 tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn.

Do bản án sơ thẩm số 37/2018/HNGĐ-ST ngày 18/6/2018 của Tòa án nhân dân huyện Th Th, tỉnh Thái Bình bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 54/2018/QĐ - PT ngày 01/10/2018 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Anh Đoàn Văn H, sinh năm 1982

Địa chỉ: Thôn Ng Tr, xã Th H, huyện Th Th, tỉnh Thái Bình.

2. Bị đơn: Chị Trần Thị H, sinh năm 1988

ĐKHK: Thôn T C, xã Th H, huyện Th Th, tỉnh Thái Bình;

Chỗ ở: Thôn L N, xã Th X, huyện Th Th, tỉnh Thái Bình.

3. Người kháng cáo: Anh Đoàn Văn H là nguyên đơn.

(Các đương sự có mặt tại phiên toà).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn - anh Đoàn Văn H trình bày:

Tại quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 112/2014/QĐST-HNGD ngày 22/12/2014 của Tòa án nhân dân huyện Th Th, tỉnh Thái Bình đã giải quyết cho chị H và anh H được thuận tình ly hôn, xác định giữa anh và chị H có 01 con chung là Đoàn Trần Minh Đ, sinh ngày 24/10/2013; giao con chung cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng, anh có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung. Hàng tháng, anh cấp dưỡng nuôi con là 1.000.000 đồng, tính từ tháng 01/2015. Sau khi ly hôn, chị H đã nhiều lần ngăn cản việc thăm nuôi con của anh.

Về việc cấp dưỡng nuôi con: Nhiều lần anh đến thăm con, mua đồ chơi cho con, có lần đưa tiền cấp dưỡng cho bà ngoại, có lần đưa tiền cho chị H, không có người chứng kiến, anh không có bằng chứng chứng minh đã giao tiền mặt cho bà ngoại và chị H. Trước khi anh khởi kiện yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con, chị H không có ý kiến gì với Chi cục thi hành án, không yêu cầu cơ quan thi hành án tiến hành thu tiền cấp dưỡng nuôi con nên chị H cũng không cung cấp được chứng cứ chứng minh anh không thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng.

Năm 2017 chị H lấy chồng, chồng mới của chị đã có 02 con riêng, chị H lại có 01 con chung với chồng mới. Họ nuôi 04 con là quá đông con. Từ khi chị H lấy chồng, con Đ luôn ở với bà ngoại, cháu không được đi học mẫu giáo, mất nhiều quyền lợi của trẻ thơ. Hiện tại anh có công ăn, việc làm ổn định, có thu nhập từ 3.000.000 - 10.000.000 đồng/tháng, anh có sổ tiết kiệm 300.000.000 đồng, có nhà riêng tại xã Ph X , thành phố Th B và chưa lấy vợ nên có đủ thời gian và điều kiện chăm sóc con chung hơn chị H. Vì vậy anh yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con, giao con chung cho anh trực tiếp chăm sóc giáo dục.

Tại bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn chị - Trần Thị H trình bày:

Chị đồng ý với phần trình bày của anh H về nội dung quyết định công nhận thuận tình ly hôn, anh chị có 01 con chung là Đoàn Trần Minh Đ, sinh ngày 24/10/2013, chị được trực tiếp nuôi con, anh H cấp dưỡng l.000.000 đồng/tháng, tính từ tháng 01/2015 cho đến khi con chung thành niên. Sau khi ly hôn anh H không thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung. Anh có đến thăm con nhưng lần nào cũng gây sự ngay tại nhà mẹ đẻ chị. Chị nhận nuôi cháu Đ, đã làm tròn trách nhiệm chăm sóc con, cháu được đi học tại trường mầm non xã Th H, sức khỏe tốt, được vui chơi, có bạn bè. Chị mua bảo hiểm nhân thọ cho cháu Đ từ năm 2013; Có sổ tiết kiệm cho con. Chị đã đi lấy chồng là anh Giang Văn Ch từ tháng 3/2017, có 01 con chung với anh Ch , đã đăng ký tạm trú cả cháu Đ về thôn LN, xã Th X , huyện Th Th, tỉnh Thái Bình. Chị xác định chị có điều kiện tốt hơn anh H trong việc trực tiếp nuôi con chung. Chị muốn cháu Đ phát triển bình thường, ổn định, tránh thay đổi môi trường sống nên chị không đồng ý việc anh H yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con.

Bản án sơ thẩm số 37/2018/HNGĐ-ST ngày 18/6/2018 của Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình đã áp dụng điểm b khoản 2 điều 84 Luật hôn nhân và gia đình; Các điều 26, 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí lệ phí tòa án, xử:

Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh H về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn. Giao con chung Đoàn Trần Minh Đ, sinh ngày 24/10/2013 cho chị H trực tiếp chăm sóc, trông nom, nuôi dưỡng.

Anh H có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung mà không ai được cản trở.

Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí, thông báo quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.

Ngày 26/6/2018, anh Đoàn Văn H kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm giao cháu Đoàn Trần Minh Đ cho anh trực tiếp nuôi dưỡng.

Tại phiên tòa, anh H giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và trình bày: Khi tôi và chị H thuận tình ly hôn, cháu Đ còn nhỏ nên giao cho mẹ nuôi. Hiện nay cháu đã 05 tuổi, chị H đã lấy chồng mới, có 04 con chung và con riêng. Do phải nuôi nhiều con nên chị H không chăm sóc tốt cho con. Từ khi chị H lấy chồng, con Đ phải ở với bà ngoại, không được học mẫu giáo, không được hưởng nhiều quyền lợi của trẻ thơ.

Chị H không đồng ý với yêu cầu của anh H về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con chung. Chị muốn cháu Đ phát triển bình thường, ổn định, tránh thay đổi môi trường sống.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình đã kết luận quá trình thực hiện tố tụng của Hội đồng xét xử, các đương sự đảm bảo đúng pháp luật và đề nghị áp dụng khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự chấp nhận yêu cầu kháng cáo của anh H, giao con Đoàn Trần Minh Đ cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng: Đơn kháng cáo của anh Đoàn Văn H đã nộp trong thời hạn luật định và đã nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm, cần chấp nhận để chấp nhận xét xử theo trình tự phúc thẩm.

Xét yêu cầu kháng cáo của anh Đoàn Văn H: Quyết định công nhận thuận tình ly hôn số số 112/2014/QĐST-HNGD ngày 22/12/2014 của Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình đã giải quyết cho chị H và anh ly hôn, xác định giữa anh và chị H có 01 con chung là Đoàn Trần Minh Đ, sinh ngày 24/10/2013; giao con chung cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng, anh có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung. Hàng tháng, anh cấp dưỡng nuôi con là 1.000.000 đồng, tính từ tháng 01/2015. Đến nay, anh H và chị H đều có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Đ, đây là nguyện vọng chính đáng của anh chị, song giao con cho ai nuôi cần xem xét đến quyền lợi về mọi mặt của con. Về điều kiện nuôi con thấy anh H, chị H đều có thu nhập và chỗ ở ổn định đủ điều kiện để nuôi con. Xét chị H hiện đã xây dựng gia đình và đã có con chưa được một tuổi, việc chăm sóc con nhỏ tốn rất nhiều thời gian của chị H, do đó thời gian chăm sóc cho cháu Đ sẽ bị hạn chế. Anh H hiện chưa xây dựng gia đình, có thu nhập và chỗ ở ổn định sẽ có nhiều thời gian chăm sóc cho cháu Đ hơn. Việc chị H cho rằng anh H không cấp dưỡng nuôi con và xuất trình một đơn đề nghị có xác nhận của Chi cục thi hành án dân sự huyện Th Th về việc chưa thu khoản tiền nào về cấp dưỡng nuôi con của anh H, trong khi đó anh H cho rằng vẫn cấp dưỡng nuôi cháu Đ vì chị H không yêu cầu nộp qua thi hành án nên anh đưa tiền trực tiếp cho chị H hoặc bà ngoại của cháu, do đó không có căn cứ xác định anh H có cấp dưỡng nuôi con hay không. Để đảm bảo lợi ích tốt nhất cho cháu Đ được chăm sóc phát triển toàn diện, cần chấp nhận yêu cầu kháng cáo của anh H, sửa án sơ thẩm giao con Đoàn Trần Minh Đ cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp. Anh H không yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh vì vậy Tòa án không giải quyết. Chị H có quyền đi lại, thăm nom con chung.

Về án phí: Do yêu cầu kháng cáo được chấp nhận, nên anh H phải không chịu án phí dân sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 2 Điều 308, khoản 1 Điều 148 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1, 2 Điều 81, các điều 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 2 Điều 29 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của anh Đoàn Văn H.

2. Sửa bản án sơ thẩm số 37/2018/HNGĐ-ST ngày 18/6/2018 của Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình.

Giao con chung Đoàn Trần Minh Đ, sinh ngày 24/10/2013 cho anh Đoàn Văn H trực tiếp nuôi dưỡng. Anh H không yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh. Chị H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con theo quy định của pháp luật.

3. Về án phí:

Anh Đoàn Văn H không phải chịu án phí dân sự sự phúc thẩm. Trả lại anh H 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm đã nộp theo biên lai số 0001477 ngày 26/6/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ