vanban.org

Bản án 25/2018/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

* Áp dụng: khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 92, Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 463,464,465,466,468,469 Bộ luật dân sự; Điều 27, 37 Luật hôn nhân và gia đ nh; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2…

* Tuyên xử: Ch p nhận một ph n yêu c u khởi kiện c a bà Nguyễn Thị Hồng Đào. Buộc bà Phạm Thị Biên và ông Đ ng Công Phong có nghĩa vụ liên đ i trả cho bà Nguyễn Thị Hồng Đào và ông Phùng Minh Thanh số tiền 4.88.525.000 đồng (Bốn trăm tám mươi tám triệu, năm trăm hai mươi lăm ngh n đồng). Kể từ ngày … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản"
  • Tòa quyết gì? * Áp dụng: khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 92, Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 463,464,465,466,468,469 Bộ luật dân sự; Điều 27, 37 Luật hôn nhân và gia đ nh; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2…
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 Luật Thi hành án dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LONG PHÚ
TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 25/2018/DS-ST.
Ngày: 29– 11– 2018.
V/v Tranh chấp hợp đồng vay tiền.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG PHÚ, TỈNH SÓC TRĂNG

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Hà

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Bùi Hồng Hiệp.

2. Ông Thạch Thanh Tâm.

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Buốl– Thẩm tranh viên Tòa án nhân dân huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Bà Dương Thị Ngọc Bích-Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 11 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 54/2018/TLST–DS, ngày 16/07/2018, về “Tranh chấp hợp đồng vay tiền” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 74/2018/QĐXX-ST, ngày 07/11/2018, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Hồng Đào

Địa chỉ: p Trà Đ c, xã Viên An, huyện Tr n Đề, tỉnh Sóc Trăng.

-Bị đơn: Bà Phạm Thị Biên và ông Đ ng Công Phong

Cùng địa chỉ: p 2, xã Châu Khánh, huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng.

-Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn: Ông Nguyễn Văn Quận- Luật sư Văn Phòng Luật sư Quang Nhơn thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Sóc Trăng.

Địa chỉ: 278/46/77 Trương Công Định, khóm 5, phường 2, thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Phùng Minh Thanh.

Địa chỉ: p Trà Đ c, xã Viên An, huyện Tr n Đề, tỉnh Sóc Trăng;

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện ngày 27 tháng 06 năm 2018 và các tài liệu khác có trong hồ sơ, cũng như tại phiên tòa sơ thẩm hôm nay, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Hồng Đào (bà Đào) trình bày: Vào khoảng tháng 06/2017, vợ chồng ông Đ ng Công Phong và bà Phạm Thị Biên có đến g p bà Đào nhờ bà Đào h i vay giúp số tiền là 350.000.000 đồng (ba trăm năm mươi triệu đồng) để nhập xăng d u về bán, tại thời điểm vay th không có làm biên nhận. Cuối tháng 07/2017, ông Phong lại tiếp tục nhờ bà Đào h i vay giúp 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng). Bà Đào cũng đã giao đ số tiền này cho ông Phong. Đến ngày 20/8/2017 ông Phong và bà Biên có ký vào biên nhận vay tiền c a hai khoản vay nêu trên tổng cộng là 450.000.000 đồng. Lãi su t th a thuận c a hai khoảng vay này là 100.000.000 đồng th lãi một ngày là 300.000 đồng. Thời hạn trả là vào ngày 20/10/2017. Sau khi làm biên nhận khoản vay này cho đến hạn trả (ngày 20/10/2017). Ông Phong và bà Biên không trả tiền theo th a thuận m c dù bà Đào đã nhiều l n đến g p ông Phong để đòi lại số tiền nợ trên nhưng ông Phong không trả nợ gốc và lãi cho bà Đào. Ngày 07/02/2018 ông Phong và bà Biên có ký lại hai biên nhận vay tiền c a các khoản vay 100.000.000 đồng và 350.000.000 đồng đồng thời cam kết đến ngày 07/3/2018 sẽ trả đ hai khoản nợ này nhưng đến hạn ông Phong và bà Biên vẫn không trả. Do số tiền này là bà Đào vay c a người khác, khi đó họ yêu c u trả nên bà Đào m i đ ng ra trả hết số tiền nợ gốc là 450.000.000 đồng và tiền lãi là 100.000.000 đồng cho họ. Tổng số tiền bà Đào đã trả cho họ là 550.000.000 đồng. Cùng ngày 07/03/2018, bà Đào và vợ chồng ông Phong, bà Biên th a thuận làm hợp đồng cho vay tiền và được công ch ng tại Văn phòng Công ch ng Tr n Văn Năm. Số tiền 550.000.000 đồng được nêu trong hợp đồng cho vay tiền ký vào ngày 07/03/2018 chính là các khoảng tiền bà Đào đã cho ông Phong vay trư c đây 450.000.000 đồng tiền nợ gốc và tiền lãi 100.000.000 đồng. Ngày 8/6/2018 ông Đ ng Công Phong có ký một “Gi y cam kết” thừa nhận còn nợ khoản tiền 550.000.000 đồng và cam kết trả khoản tiền này trong thời hạn từ ngày 08/6/2018 đến ngày 15/6/2018, nhưng ông Phong và bà Biên vẫn không thực hiện cam kết. Kể từ ngày ký hợp đồng đến nay, vợ chồng ông Phong chỉ đóng lãi cho bà Đào được 03 l n v i số tiền là 17.500.000 đồng (mười bảy triệu năm trăm ngh n đồng) và chưa hoàn trả lại số tiền nợ gốc cho bà Đào.

Nay bà Nguyễn Thị Hồng Đào yêu c u Tòa án nhân dân huyện Long Phú giải quyết: Buộc ông Đ ng Công Phong và bà Phạm Thị Biên trả cho bà tổng số tiền là 562.750.000 đồng (năm trăm sáu mươi hai triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng). Trong đó, nợ gốc là 550.000.000 đồng và lãi 12.750.000 đồng (lãi tạm tính từ ngày 07/03/2018 – 27/06/2018, lãi su t 1,5 /tháng là 30.250.000 đồng – số tiền lãi đã đóng 17.500.000 đồng 12.750.000 đồng). Cùng v i đơn khởi kiện bà Đào còn nộp các tài liệu ch ng c gồm: Biên nhận vay tiền 350.000.000 đồng ngày 07/02/2018; Biên nhận vay tiền 100.000.000 đồng ngày 07/02/2018; Hợp đồng vay tiền ngày 07/3/2018; Biên nhận vay tiền ngày 20/8/2017; Gi y cam kết ngày 08/6/2018;

*Tại tờ tường tr nh ngày 04/08/2018 và các tài liệu khác có trong hồ sơ bị đơn bà Phạm Thị Biên và ông Đ ng Công Phong thống nh t trình bày: Ông Phong và bà Biên thừa nhận là có vay tiền c a bà Đào 02 l n: L n th nh t vay 350.000.000 đồng từ ngày 29/8/2017 đến này 29/10/2017 đã thanh toán xong số tiền này; L n th hai vay 100.000.000 đồng đến ngày 02/9/2017 trả đ số tiền này. Sau đó do c n tiền nên ông Phong và bà Biên tiếp tục h i vay c a bà Đào 500.000.000 đồng khoản tiền h i vay này các bên làm hợp đồng có công ch ng. Song sau khi làm hợp đồng do bà Đào không gom đ tiền nên trên thực tế không có giao tiền như theo hợp đồng hai bên đã giao kết.

Nay, bà Đào yêu c u vợ chồng ông Phong và bà Biên trả tiền vốn vay và lãi tổng cộng bằng 562.750.000 đồng ông bà không đồng ý.

Ngày 10/8/2018 ông Đ ng Công Phong có đơn phản tố yêu c u Tòa án buộc bà Đào trả lại hai gi y ch ng minh và sổ hộ khẩu c a ông Phong và bà Biên do bà Đào yêu c u đưa rồi m i giao tiền vay nhưng bà Đào không thực hiện.

*Tại phiên tòa sơ thẩm người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phùng Minh Thanh tr nh bày: Ông hoàn toàn thống nh t v i nội dung trình bày và yêu c u c a vợ ông là bà Đào, ông không có ý kiến hay yêu c u g thêm.

*Tại phiên tòa sơ thẩm Vị luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn tr nh bày: Th a thuận vay tiền giữa bà Đào, ông Phong và bà Biên được xác lập theo hợp đồng cho vay tiền có công ch ng ngày 07/3/2018. Theo hợp đồng này các bên th a thuận khoản vay là 550.000.000 đồng nhưng phía nguyên đơn không xu t tr nh được ch ng c ch ng minh đã giao tiền như th a thuận theo hợp đồng. Do đó, yêu c u Tòa án bác toàn bộ yêu c u c a nguyên đơn. Yêu c u Tòa án buộc bà Đào trả lại sổ hộ khẩu và gi y ch ng minh nhân dân c a ông Phong và bà Biên như theo yêu c u phản tố.

*Tại phiên tòa hôm nay, vị đại diên Viện Kiểm Sát phát biểu ý kiến trong quá tr nh giải quyết vụ án từ khi thụ lý cho đến trư c khi Hội đồng xét xử tiến hành nghị án, những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định c a pháp luật tố tụng dân sự về tr nh tự, th tục tố tụng. Đối v i những người tham gia tố tụng th trư c và tại phiên tòa hôm nay ch p hành đúng quy định c a Bộ luât tố tụng dân sự, tham gia tố tụng theo triệu tập c a tòa án. Tại phiên tòa sơ thâm Hội đồng xét xử, thư ký thực hiện đúng tr nh tự th tục tại phiên tòa. Về nội dung, Vị đại diện Viện kiểm sát nêu quan điểm ch p nhận một ph n yêu c u khởi kiện c a nguyên đơn về số tiền vốn gốc là 550.000.000 đồng, tính lãi theo quy định c a pháp luật. Ch p nhận yêu c u phản tố c a bị đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn không rút đơn khởi kiện các đương sự không th a thuận được v i nhau về việc giải quyết vụ án.

Sau khi nghiên c u các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn c vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

-Theo đơn khởi kiện ngày 27/06/2018 c a bà Nguyễn Thị Hồng Đào yêu c u Tòa án giải quyết về tranh ch p hợp đồng vay tiền được giao kết giữa bà Đào v i bà Biên và ông Phong địa chỉ p 2, xã Châu Khánh, huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng. Căn c vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 429 Bộ luật dân sự, Hội đồng xét xử xác định việc Tòa án nhân dân huyện Long Phú thụ lý, giải quyết vụ án theo trình tự sơ thẩm là đúng quy định pháp luật về thẩm quyền và thời hiệu khởi kiện.

-Tại phiên tòa sơ thẩm ông Đ ng Công Phong và bà Phạm Thị Biên vắng m t, có đơn xin xét xử vắng m t. Bà Đào, ông Thanh, Luật sư bảo vệ quyền và và lợi ích hợp pháp cho bị đơn và vị đại diện Viện kiểm sát đều đề nghị Hội đồng xét xử, xét xử vắng m t ông Phong, bà Biên do có đơn yêu c u xét xử vắng m t theo đúng quy định c a pháp luật. Xét th y, việc các bị đơn có đơn yêu c u xét xử vắng m t là phù hợp v i quy định c a Bộ luật tố tụng dân sự. Do đó căn c vào khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vụ án vắng m t ông Phong, bà Biên.

Xét đơn khởi kiện bà Nguyễn Thị Hồng Đào yêu cầu Tòa án buộc vợ chồng ông Đặng Công Phong và bà Phạm Thị Biên trả cho bà Đào 562.750.000 đồng nợ tiền vốn và lãi còn thiếu:

-Từ lời thừa nhận c a ông Phong và bà Biên tại tờ tường tr nh ngày 04/8/2018 (Bút lục số: 13) và đơn phản tố ngày 10/8/2018 (Bút lục số: 17) về việc giữa bà Nguyễn Thị Hồng Đào và vợ chồng ông Phong, bà Biên có quan hệ vay tiền, theo đó ông Phong và bà Biên thừa nhận là có vay tiền c a bà Đào 02 l n: L n th nh t vay 350.000.000 đồng; L n th hai vay 100.000.000 đồng. Căn c vào khoản 2 Điều 92 c a Bộ luật tố tụng dân sự về những t nh tiết sự kiện không phải ch ng minh, Hội đồng xét xử công nhận t nh tiết này là sự thật. Cùng v i việc thừa nhận có vay 02 l n v i tổng số tiền là 450.000.000 đồng, ông Phong và bà Biên còn khai số tiền vay này ông bà đã trả cho bà Đào trong khoảng thời gian từ ngày 29/8/2017 đến ngày 29/10/2017. Song trong suốt quá tr nh tiến hành tố tụng từ khi thụ lý vụ án cho đến trư c khi đưa vụ án ra xét xử các bị đơn không cung c p được tài liệu ch ng c để ch ng minh lời tr nh bày c a m nh là có căn c . Do đó, việc ông Phong và bà Biên cho rằng đã thanh toán cho bà Đào khoản tiền vốn vay 450.000.000 là không có căn c để Hội đồng xét xử ch p nhận.

Về việc bà Đào yêu c u Tòa án buộc ông Phong và bà Biên trả khoản tiền 562.750.000 đồng gồm 550.000.000 đồng tiền vốn ( trong đó có 450.000.000 đồng tiền vốn gốc + 100.000.000 đồng tiền lãi nhập vốn gốc) và 12.750.000 đồng tiền lãi. Xét th y. M c dù đã được thông báo số tiền vốn mà bà Đào yêu c u hoàn trả là 550.000.000 đồng, nhưng ông Phong và bà Biên chỉ thừa nhận có vay số tiền 450.000.000 đồng. ông Phong và bà Biên không thừa nhận về việc có nhờ bà Đào vay dùm 100.000.000 đồng để trả lãi như bà đã khai nêu trên. Phía bà Đào có xu t tr nh được “Gi y cam kết” ngày 08/6/2018 cùng một số biên nhận nhận tiền khác có chữ ký chữ viết c a ông Phong và bà Biên, nhưng các biên nhận tài liệu này chỉ để cập đến hai khoản vay l n 01 là 350.000.000 đồng và l n 2 là 100.000.000 đồng và cam kết trả đúng các khoản tiền này, không ghi nhận m c lãi su t cùng số tiền lãi phải trả. Đối v i ch ng c là “Gi y cam kết” ngày 08/6/2018 cũng không nói r số nợ 550.000.000 đồng này bao gồm những khoản tiền nào? Phát sinh từ đâu? Bà Đào không yêu c u giám định chữ ký, chữ viết trên tài liệu này, nên không có căn c xác định đây là chữ ký, chữ viết c a ông Đ ng Công Phong. Do đó bà Đào cho rằng hai bên vay th a thuận lãi 100.000.000 đồng mỗi ngày trả lãi 300.000 đồng (Bút lục 11), ông Phong, bà Biên nhờ bà vay 100.000.000 đồng để trả lãi cho khoản vay gốc 450.000.000 đồng và nhập khoản khoản tiền 100.000.000 đồng này vào vốn gốc thành 550.000.000 đồng để yêu c u trả vốn và tính lãi là không có cơ sở để Hội đồng xét xử ch p nhận. Về lãi su t và số tiền lãi phát sinh mà phía nguyên đơn nêu ra. Theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự: “Trường hợp các bên có thỏa thuận về việc trả lãi, nhưng không xác định rõ lãi suất và có tranh chấp về lãi suất thì lãi suất được xác định bằng 50% mức lãi suất giới hạn quy định tại khoản 1 điều này tại thời điểm trả nợ”. Do đây là các khoản vay hai bên có tranh về kỳ hạn và lãi su t, nên lãi su t các khoản vay các bị đơn phải trả sẽ được tính lãi bằng 10 /năm kể từ thời điểm vay theo sự thừa nhận c a bị đơn cho đến ngày xét xử sơ thẩm:

-Đối v i khoản vay 350.000.000 đồng thời gian bắt đ u vay là ngày 29/8/2017 đến nay (29/11/2018) lãi khoản vay là 15 tháng x 350.000.000 đồng x 0,83%/tháng = 43.575.000 đồng. Tổng vốn lãi c a khoản vay 350.000.000 đồng là: 350.000.000 đồng + 43.575.000đồng 393. 575.000 đồng

-Đối v i khoản vay 100.000.000 đồng đây là khoản vay l n 2 phía bị đơn không nêu r thời gian bắt đ u vay nhưng xác định ngày trả là ngày 02/9/2017 nên c n xác định thời gian bắt đ u vay tương ng v i thời điểm vay l n 1. Như vậy đến nay (29/11/2018) lãi khoản vay này là 15 tháng x 100.000.000 đồng x 0,83%/tháng = 12.450.000 đồng. Tổng vốn lãi c a khoản vay 100.000.000 đồng là: 100.000.000 đồng + 12,450.000 đồng 112.450.000 đồng.

Tại phiên tòa sơ thẩm bà Đào xác định các khoản tiền mà bà Biên và ông Phong vay là tài sản chung c a bà Đào và ông Thanh, ông Phong và bà Biên đã thanh toán được 17.500.000 đồng tiền lãi. Như vây, tiền vốn và lãi mà ông Phong và bà Biên có nghĩa vụ trả cho bà Đào và ông Thanh là: 393.575.000 đồng + 112.450.000 đồng 506.025.000 đồng – 17.500.000 đồng (tiền lãi đã thanh toán) 488.525.000 đồng.

Về việc ông Phong yêu c u Tòa án buộc bà Đào trả lại cho ông Phong và bà Biên 01 sổ hộ khẩu c a ông và hai gi y ch ng minh nhân dân c a ông Phong và bà Biên. Xét th y, các loại gi y tờ này không phải là Tài sản, gi y tờ có giá, quyền về tài sản hay có liên quan đến tài sản, không thuộc phạm vi điều chỉnh c a pháp luật dân sự. Do đó, không thuộc thẩm quyền xem xét, giải quyết trong vụ án.

Do đây là các khoản tiền mà ông Phong và bà Biên thừa nhận cùng đ ng ra vay. Do đó, căn c vào Điều 27, 37 Luật hôn nhân và gia đ nh ông Phong và bà Biên có trách nhiệm liên đ i thực hiện nghĩa vụ nêu trên.

Từ việc kiểm tra, đánh giá các tài liệu ch ng c có trong hồ sơ tại phiên tòa sơ thẩm và nhận định như trên, ý kiến c a Vị luât sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho các bị đơn yêu c u không ch p nhận yêu c u khởi kiện c a nguyên đơn là không có căn c để Hội đồng xét xử ch p nhận.

Hội đồng xét xử ch p nhận một ph n ý kiến c a Đại diện Viện kiểm sát về giải quyết nội dung vụ án.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu c u c a bà Đào được ch p nhận một ph n nên phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch bà Biên và ông Phong phải chịu bằng 20.000.000 đồng + 88.525.000 đồng x 4

23.541.000 đồng.

Bà Nguyễn Thị Hồng Đào phải chịu án phí dân sự không có giá ngạch trên ph n yêu c u c a bà không được ch p nhận là: 562.750.000 đồng – 488.525.000 đồng 74.225.000 đồng x 5% = 3.711.000 đồng.

Về quyền kháng cáo bản án: căn c vào các Điều 271 và 273 c a Bộ luật tố tụng dân sự, các đương sự có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

V các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH:

* Áp dụng: khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 92, Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 463,464,465,466,468,469 Bộ luật dân sự; Điều 27, 37 Luật hôn nhân và gia đ nh; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 c a Quốc hội qui định về m c thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí tòa án; Điều 26 luật thi hành án dân sự.

* Tuyên xử:

1. Ch p nhận một ph n yêu c u khởi kiện c a bà Nguyễn Thị Hồng Đào. Buộc bà Phạm Thị Biên và ông Đ ng Công Phong có nghĩa vụ liên đ i trả cho bà Nguyễn Thị Hồng Đào và ông Phùng Minh Thanh số tiền 4.88.525.000 đồng (Bốn trăm tám mươi tám triệu, năm trăm hai mươi lăm ngh n đồng). Kể từ ngày án có hiệu lực và bà Nguyễn Thị Hồng Đào có đơn yêu c u thi hành án cho đến khi ông Đ ng Công Phong và bà Phạm Thị Biên trả xong cho bà Nguyễn Thị Hồng Đào và ông Phùng Minh Thanh toàn bộ số tiền 4.88.525.000 đồng (Bốn trăm tám mươi tám triệu, năm trăm hai mươi lăm ngh n đồng), thì hàng tháng ông Đ ng Công Phong và bà Phạm Thị Biên còn phải chịu khoản tiền lãi c a số tiền còn thiếu theo m c lãi su t quy định tại khoản 2 Điều 468 c a Bộ luật dân sự năm 2015.

2.Về án phí sơ thẩm:

Ông Đ ng Công Phong và bà Phạm Thị Biên phải liên đ i chịu 23.541.000 đồng (Hai mươi ba triệu, năm trăm bốn mươi một ngh n). án phí dân sự sơ thẩm.

Bà Nguyễn Thị Hồng Đào và ông Phùng Minh Thanh phải liên đ i chịu án phí dân sự sơ thẩm là: 3.711.000 đồng (Ba triệu bảy trăm mười một ngh n), được kh u trừ vào số tiền tạm ng án phí sơ thẩm đã nộp 13.255.000 đồng (Mười ba triệu, hai trăm năm mươi năm ngh n đồng), theo biên lai thu tiền tạm ng án phí số AA/2016/0003160 ngày 13 tháng 7 năm 2018 c a Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng. Bà Nguyễn Thị Hồng Đào và ông Phùng Minh Thanh được nhận lại số tiền 9.544.000 đồng (Chín triệu năm trăm bốn mư i bốn ngh n).

3. Không ch p nhận yêu c u c a ông Đ ng Công Phong về việc buộc bà Nguyễn Thị Hồng Đào trả lại cho ông Đ ng Công Phong và bà Phạm Thị Biên 01 sổ hộ khẩu đ ng tên Đ ng Công Phong và 02 Gi y ch ng minh nhân dân mang tên Đ ng Công Phong và Phạm Thị Biên.

4.Về quyền kháng cáo bản án: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Đối v i các đương sự vắng m t tại phiên tòa hôm nay th thời gian kháng cáo được tính từ ngày tống đạt bản án ho c niêm yết bản án theo quy định c a pháp luật.

5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 c a Luật Thi hành án dân sự th người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền th a thuận thi hành án, quyền yêu c u thi hành án, tự nguyện thi hành án ho c bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 c a Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 c a Luật Thi hành án dân sự. Hôi thẩm nhân dân Hội thẩm nhân dân Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa Thạch Thanh Tâm

Bùi Hồng Hiệp

Nguyễn Trung Hà

Cỡ chữ