vanban.org

Bản án 25/2017/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc xin ly hôn của bà Võ Thị Thúy D đối với ông Huỳnh Chí T.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Võ Thị Thúy D được ly hôn với ông Huỳnh Chí T. Về con chung: Bà Võ Thị Thúy D được quyền trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung tên Huỳnh Ngọc Phương A, sinh ngày 14/9/2013. Ông Huỳnh Chí T không phải cấp dưỡng nuôi con. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Võ Thị Thúy D- Huỳnh Chí T"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc xin ly hôn của bà Võ Thị Thúy D đối với ông Huỳnh Chí T.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…; Luật Phí và lệ phí
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BẮC TÂN UYÊN
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 25/2017/HNGĐ-ST
Ngày: 22-8-2017
V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Bích Hạnh.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Hoàng Thị Hạnh;

2. Ông Võ Phi Anh Toàn.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bắc Tân Uyên.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Bắc Tân Uyên tham gia phiên tòa: Bà Đặng Thị Ngọc Linh - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 8 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bắc Tân Uyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 94/2017/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 6 năm 2017 về việc tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 27/2017/QĐXXST-HNGĐ ngày 07 tháng 8 năm 2017 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Võ Thị Thúy D, sinh năm 1990; địa chỉ thường trú: Số nhà 99/4A, ấp H, xã T, huyện M, Thành phố Hồ Chí Minh; có mặt.

- Bị đơn: Ông Huỳnh Chí T, sinh năm 1985; địa chỉ thường trú: Số 26, tổ H, ấp M, xã B, huyện U, tỉnh Bình Dương; có đơn xin giải quyết vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Bà Võ Thị Thúy D và ông Huỳnh Chí T tự tìm hiểu nhau, được cha mẹ hai bên đồng ý, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện T (Nay là U), tỉnh Bình Dương vào ngày 01/3/2012. Sau khi cưới thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc, khoảng 02 năm trở lại đây vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do bất đồng ý kiến, vợ chồng thường xuyên gây gổ cãi vã. Theo bà D thì ngoài bất đồng ý kiến còn có nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn là do ông T không có trách nhiệm với gia đình, không chăm lo cho vợ con mà thường xuyên đi cờ bạc. Bà D đã về nhà cha mẹ ruột sống hơn một năm nay, bà D và ông T xác định tình cảm vợ chồng không còn, không thể hàn gắn được nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho hai vợ chồng được ly hôn. Thời gian chung sống vợ chồng có 01 con chung tên Huỳnh Ngọc Phương A, sinh ngày 14/9/2013. Cháu Huỳnh Ngọc Phương A đang sống với mẹ, vợ chồng ly hôn thì con chung giao bà D nuôi dưỡng chăm sóc, ông T không phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản và nợ chung: Bà D và ông T thống nhất tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Thẩm phán , các đương sự và Hô ̣i đồng xét xử đa tiến hã

̀nh đúng các thủ tu ̣c tố tu ̣ng theo quy đi ̣nh của pháp luật . Đối với các đương sự nguyên đơn chấp hành tốt theo giấy triê ̣u tâ ̣p của Tòa án, bị đơn vắng mă ̣t nhưng đã có lời khai trình bày ý kiến và có đơn xin giải quyết vụ án vắng mặt. Căn cứ vào khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bị đơn là đúng quy định.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát, Tòa án nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

Bà Võ Thị Thúy D có đơn yêu cầu ly hôn với ông Huỳnh Chí T, hiện nay ông T đang cư trú tại ấp M, xã B, huyện U, tỉnh Bình Dương nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bắc Tân Uyên theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Bị đơn ông Huỳnh Chí T có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bị đơn.

Về nội dung vụ án:

Về quan hệ hôn nhân: Bà D và ông T tự tìm hiểu nhau, được cha mẹ hai bên đồng ý, có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện T (Nay là Bắc Tân Uyên), tỉnh Bình Dương vào ngày 01/3/2012 nên đây là hôn nhân hợp pháp.

Sau khi cưới thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc, khoảng 02 năm trở lại đây vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do bất đồng ý kiến, vợ chồng thường xuyên gây gổ cãi vã. Theo bà D thì ngoài bất đồng ý kiến còn có nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn là do ông T không có trách nhiệm với gia đình, không chăm lo cho vợ con mà thường xuyên đi cờ bạc nên bà D đã về nhà cha mẹ ruột sống hơn một năm nay, bà D và ông T xác định tình cảm vợ chồng không còn, không thể hàn gắn được nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho hai vợ chồng được ly hôn.

Tại biên bản xác minh tình trạng hôn nhân ngày 04/8/2017 và 23/6/2017 thì chính quyền địa phương không nắm được mâu thuẫn trong quan hệ hôn nhân giữa bà D và ông T. Tuy nhiên, theo lời trình bày của ông T thì hai vợ chồng thường xuyên cãi vã và ông T, bà D đã sống ly thân hơn một năm nay.

Xét mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng bà D và ông T không còn sống chung, vợ chồng tự chăm lo cho cuộc sống của bản thân, không còn quan tâm đến nhau, mục đích hôn nhân không đạt được. Hội đồng xét xử xét thấy, quan hệ hôn nhân phải được xây dựng trên tình yêu thương, trách nhiệm, nghĩa vụ, sự quan tâm, chăm sóc nhau. Tuy nhiên, bà D và ông T thường xảy ra mâu thuẫn, mục đích hôn nhân không đạt được, việc bà D yêu cầu ly hôn với ông T là có cơ sở theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình nên cần được chấp nhận.

Về con chung: Bà D và ông T có 01 người con chung tên Huỳnh Ngọc Phương A, sinh ngày 14/9/2013. Bà D và ông T thống nhất giao con chung cho bà D trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, ông T không phải cấp dưỡng nuôi con do bà D không yêu cầu, xét sự thỏa thuận của các đương sự là tự nguyện, không trái pháp luật, đạo đức xã hội nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không có yêu cầu tranh chấp nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Đối với ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ.

Về án phí sơ thẩm: Bà Võ Thị Thúy D phải chịu toàn bộ án phí hôn nhân và gia đình theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 228, Điều 266, Điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Áp dụng Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

Áp dụng Luật Phí và Lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc xin ly hôn của bà Võ Thị Thúy D đối với ông Huỳnh Chí T.

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Võ Thị Thúy D được ly hôn với ông Huỳnh Chí T.

- Về con chung: Bà Võ Thị Thúy D được quyền trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung tên Huỳnh Ngọc Phương A, sinh ngày 14/9/2013. Ông Huỳnh Chí T không phải cấp dưỡng nuôi con.

Bà Võ Thị Thúy D và ông Huỳnh Chí T đều có quyền và nghĩa vụ đối với con chung, được quyền thăm nom chăm sóc con chung, không ai được ngăn cản. Vì lợi ích của con chưa thành niên, khi có yêu cầu, Tòa án sẽ giải quyết việc thay đổi người nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu tranh chấp nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

- Về án phí sơ thẩm: Bà Võ Thị Thúy D phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền tạm đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2014/0005484 ngày 29/5/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bắc Tân Uyên.

Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Nếu vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ