vanban.org

Bản án 25/2017/DS-PT — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

TAND tỉnh Nam Định Tuyên án 09/08/2017 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 09/08/2017 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Tranh chấp đòi lại tài sản giữa bà Mai Thị D với bà Phạm Thị Thúy N và ông Phạm Ngọc D1"
  • Căn cứ chính? Luật Giám định tư pháp số 13/2012/QH13; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 255 Bộ luật Dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 25/2017/DS-PT.
Ngày: 09-8-2017
“V/v tranh chấp đòi lại tài sản”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Vũ Thị Thu.

Các thẩm phán:

Bà Nguyễn Thi ̣ Ba ̣ch Tuyết

Bà Mai Thị Minh Hồng

- Thư ký phiên toà:

Ông Bùi Ngo ̣c Quỳnh – Thư ký TAND tỉnh Nam Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định tham gia phiên tòa:

Bà Trương Thi ̣ Minh Thúy - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 07, 09 tháng 8 năm 2017 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh

Nam Định xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 05/2017/TLPT-DS ngày 14/3/2017 về tranh chấp đòi la ̣i tài sản.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 01/2017/DS-ST ngày 12/01/2017 của Tòa án nhân dân huyê ̣n Hải Hâ ̣u, tinh Nam Định bi ̣̉

kháng cáo và bi ̣ kháng nghi ̣.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 34/2017/QĐ-PT ngày 17 tháng 4 năm 2017 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Mai Thị D; Trú ta ̣i: Xóm A, xã H, huyện H1, tỉnh Nam Định.

Ngườ i bảo vê ̣ quyền và lợi ich hợp phá p của nguyên đơn:

́

Bà Nguyễn Thi ̣ H, Luâ ̣t sư- Công ty luâ ̣t trách nhiê ̣m hữu ha ̣n H thuô ̣c

Đoàn Luâ ̣t sư thành phố Hà Nô ̣i.

2. Bị đơn:

2.1 Bà Phạm Thị Thúy N; Trú ta ̣i: Tổ dân phố số 1, thị trấn Y, huyện H1,

tỉnh Nam Định.

Người đại diện theo ủy quyền của bà Phạm Thi ̣ Thú y N:

Ông Lại Xuân C; ĐKNK: Thôn V, xa B, huyê ̣̃

n Q, tỉnh B; Trú ta ̣i: 407 K, phố V, quâ ̣n H2, thành phố H3 “ được ủy quyền theo văn bản ủy quyền ngày 20/4/2017”.

2.2 Ông Phạm Ngọc D1; Trú ta ̣i: Tổ dân phố số 1, thị trấn Y, huyện H1, tỉnh Nam Định.

- Ngườ i khá ng cá o: Nguyên đơn: Bà Mai Thi ̣ D; Bi ̣ đơn: Bà Pha ̣m Thi ̣ Thú y N và ông Pha ̣m Ngọc D.

- Viện kiểm sá t khá ng nghi ̣: Viê ̣n trưở ng - Viê ̣n kiểm sát nhân dân huyê ̣n Hải Hâ ̣u, tỉnh Nam Đi ̣nh.

Ta ̣i phiên tòa phúc thẩm: Bà D, Luâ ̣t sư H, ông C và ông D có mă ̣t. Vắng mă ̣t bà N. Khi tuyên án vắng mă ̣t ông C, ông D và bà N.

NỘI DUNG VỤ Á N:

Theo đơn khởi kiện ghi ngày 29/01/2016 và quá trinh tố tu ̣ng ta ̣i Tòa án

̀ nguyên đơn bà Mai Thị D trinh bày:

̀

Bà và ông Phạm Ngọc D1 là bạn học phổ thông từ nhỏ, ông D1 là chồng bà Phạm Thị Thúy N. Do có quan hệ gần gũi tin tưởng nhau nên ngày 02 tháng 5 năm 2012 bà cho bà N ông D1 vay 3 tỷ đồng để đầu tư làm ăn kinh tế, kinh doanh xăng dầu. Do lượng tiền lớn, bà không đủ nên phải vay của một số người trong gia đình, họ hàng, hàng xóm và các bạn hàng cùng kinh doanh. Bà đã giao cho ông D1 bà N đủ số tiền là 3 tỷ đồng tại nhà bà, gồm nhiều cọc tiền có mệnh giá 500.000 đồng; 200.000 đồng; 100.000 đồng, lãi suất theo thỏa thuận, thời hạn vay một tháng. Khi nhận tiền ông D1 bà N kiểm tra đếm đầy đủ, sau đó cho tiền vào hai túi vải mang theo, bà N viết và ký vào giấy biên nhận vay tiền, giao cho bà giữ, ông D1 không ký. Việc giao nhận tiền không có ai làm chứng, bà tin tưởng là chỗ bạn bè nên không nghi ngờ gì, những lần vay trước ông D1 bà N đều thanh toán đầy đủ, đúng hạn. Đến hạn trả nợ 3 tỷ đồng, bà điện cho bà N hỏi về việc trả nợ thì bà N khất do chưa có tiền trả.

Ngày 12/9/2015 ông D1 điê ̣n cho bà đến nhà, ta ̣i nhà ông D1 thanh toán cho bà 30.000.000đ nói là trả tiền lãi của số tiền vay trên, chữ viết trong giấy thanh toán công nợ là của ông D1 và bà. Từ đó, cho đến nay bà đòi rất nhiều lần nhưng bà N ông D1 đều khất, không có thiện trí trả nợ, còn thách đố, đe dọa, không có kế hoạch trả nợ gốc, nợ lãi gây thiệt hại nặng nề ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh và đời sống của gia đình bà. Nay bà khở i kiê ̣n đề nghị Tòa án buộc bà N và ông D1 phải có trách nhiệm trả cho bà nợ gốc là 3.000.000.000đ và phải bồi thường thiệt hại là 2.280.000.000đ. Tổng số 5.280.000.000đ.

Ta ̣i bản tự khai và quá trinh tố tu ̣ng ta ̣i Tòa án bị đơn là bà Phạm Thị Thúy

̀ N trình bày:

Bà vay tiền của bà Mai Thị D nhiều lần từ năm 2007 đến 2011 đều trả gốc, lãi cho bà D. Thời gian qua, bà vay của bà D 530.000.000đ làm 3 lần, bà không nhớ cụ thể ngày, tháng từng lần vay, mỗi lần vay đều có giấy biên nhận, chỉ có một mình bà giao dịch với bà D, ông D1 không tham gia, bà vay số tiền này, để trả lãi giúp cho vợ chồng ông Lâm Ngọc V và bà Phạm Thị D2, nay ông V bà D2 chưa trả nên bà chưa có tiền trả cho bà D.

Tháng 10 năm 2015 bà trả cho bà D 30.000.000đ tại nhà bà, không có ai chứng kiến. Hiện nay, còn nợ 500.000.000đ. Bà D đòi nợ, bà khất để bà thu nợ của ông V bà D2 sẽ trả, nhưng bà D đã thuê xã hội đen, ép bà đến nhà bà D viết giấy nhận nợ, vay của bà D là 3.000.000.000đ và nói khi nào lấy được 530.000.000đ ở chỗ ông V, bà D sẽ trả lại giấy nợ khống, nhưng đến nay bà D không lấy được nợ của ông V và dùng giấy nợ khống ba tỷ để kiện đòi nợ. Bà xác nhận còn nợ của bà D gốc là 500.000.000đ. Bà công nhận chữ ký, chữ viết trong giấy biên nhận ngày 02/5/2012 là do bà viết.

Bà D khởi kiện, bà nhất trí sẽ có trách nhiệm trả đủ tiền gốc còn lại là 500.000.000đ, khi nào lấy nợ được của ông V bà D2 thì bà sẽ thanh toán trả hết. Bà không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà D đòi nợ 3.000.000.000đ.

Ta ̣i bản tự khai và quá trinh tố tu ̣ng ta ̣i Tòa án bi ̣ đơn là ông Phạm Ngọc D1

̀ trình bày:

Việc bà N (vợ ông) vay tiền của bà D, ông không biết. Đến ngày 12/9/2015 bà D đến nhà ông lấy 30.000.000đ, ông hỏi bà N vay tiền làm gì, thì bà N nói vay của bà D 3 giấy biên nhận (130.000.000đ, 200.000.000đ, 200.000.000đ tổng là 530.000.000đ) đưa cho ông V bà D2 vay. Ngày 12/9/2015 trả cho bà D 30.000.000đ, hiện còn nợ 500.000.000đ. Bà D đã đưa người đến UBND thị trấn Y, quy tĩ n du ̣ng và gia đình ông để đòi nợ, ông mới biết bà N vay tiền của bà D.

́

Ta ̣i bản án số 01/2017/DSST ngày 12/01/2017 của Tòa án nhân dân huyê ̣n Hải Hâ ̣u, tinh Nam Định quyể

́t đi ̣nh. Áp dụng các Điều 255; 256; 388; 401; 402; 404; 405; 471; 474; 427 Bộ luật dân sự năm 2005; Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Điều 27 Pháp lệnh án phí, lệ phí Toà án.

1. Xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Mai Thị D kiện đòi lại tài sản đối với vợ chồng bà Phạm Thị Thúy N, ông Phạm Ngọc D1 là hợp pháp.

2. Buộc vợ chồng bà Phạm Thị Thúy N, ông Phạm Ngọc D1 phải có trách nhiệm thanh toán trả lại cho bà Mai Thị D số tiền 2.970.000.000đ.

3. Xử bác yêu cầu tính lãi suất của bà Mai Thị D.

4. Án phí dân sự sơ thẩm: Vợ chồng bà Phạm Thị Thúy N, ông Phạm Ngọc D1 phải nộp 91.400.000đ. Hoàn trả lại cho bà Mai Thị D số tiền nộp tạm ứng án phí là 10.000.000đ tại biên lai số 06938 ngày 16/3/2016 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Hải Hậu.

Ngày 20/01/2017 bà N và ông D1 kháng cáo toàn bô ̣ án sơ thẩm, yêu cầu cấp phúc thẩm xử bác yêu cầu khở i kiê ̣n của nguyên đơn. Vớ i lý do không nhất tri vớ i

́ quyết đi ̣nh của bản án sơ thẩm, buô ̣c bà N và ông D1 phải thanh toán số tiền 2.970.000.000đ và chi ̣u 91.000.000đ án phi dân sự sơ thẩm là không đúng sự thâ ̣t

́

khách quan. Chứ ng cứ có trong hồ sơ vu ̣ án chưa được đánh giá khách quan, toàn diê ̣n, đánh giá chứ ng cứ mớ i chỉ nghiêng về mô ̣t phia. Tòa án chưa đánh giá chứ ng

́ cứ do bà N cung cấp, dẫn đến nhâ ̣n đi ̣nh cũng như quyết đi ̣nh của bản án chưa đúng thực tế, ảnh hưở ng đến quyền và lợi ich hợp pháp của bà N và ông D1.

́

Ngày 21/01/2017 bà D kháng cáo bản án sơ thẩm, về nghia vu ̣ phải trả tiền laĩ

̃ phát sinh từ khoản tiền vay kể từ thờ i điểm vay, theo quy đi ̣nh của pháp luâ ̣t. Và đề nghi ̣ xem xét giải quyết, bắt đầu la ̣i thờ i hiê ̣u khở i kiê ̣n, đối vớ i phần tiền laĩ phát sinh do bi ̣ đơn chưa trả. Yêu cầu bi ̣ đơn có trách nhiê ̣m đối vớ i những vi pha ̣m của minh trong hợp đồng vay tài sản.

̀

Ngày 25/01/2017 Viê ̣n kiểm sát nhân dân huyê ̣n Hải Hâ ̣u có quyết đi ̣nh kháng nghi ̣ số 01/QĐ/KNPT, kháng nghi ̣ bản án dân sự sơ thẩm số 01/2017/DS-ST ngày 12/01/2017 của Tòa án nhân dân huyê ̣n Hải Hâ ̣u vớ i nô ̣i dung:

Cấp sơ thẩm xử chấp nhâ ̣n yêu cầu khở i kiê ̣n của bà Mai Thi ̣ D, buô ̣c vợ chồng bà Pha ̣m Thi ̣ Thúy N, ông Pha ̣m Ngo ̣c D có trách nhiê ̣m thanh toán cho bà D số tiền 2.970.000.000đ là không có cơ sở bở i le:̃

Theo lờ i khai của bà N, bà N vay tiền của bà D làm nhiều lần từ năm 2007 đến năm 2011 các bên thỏa thuâ ̣n lai suẫ

́t cao, bà N đa trã ̉ gốc, lai theo đi ̣̃

nh kỳ. Từ năm 2012 số nợ còn la ̣i theo tinh toán của các bên là 530.000.000đ. Năm 2014 -

́ năm 2015, bà D lợi du ̣ng thờ i điểm Đa ̣i hô ̣i Đảng và bầu cử Hô ̣i đồng nhân dân các cấp ép (hinh thứ c mượn ngườ i chử i bớ i, đe do ̣a nhằm làm giảm uy tin của ông

̀

́ D1) vợ chồng ông D1 bà N phải trả nợ. Do sợ ảnh hưở ng đến công viê ̣c của ông D1, bà N chấp nhâ ̣n viết giấy vay nợ cho bà D số tiền là 3 tỷ đồng.

Viê ̣c bà D thuê ngườ i đến nơi làm viê ̣c của bà N, ông D đòi nợ là có thâ ̣t và được Ban công an thi ̣ trấn Y- H1 xác nhâ ̣n, nhưng những tinh tiết này không được

̀ Tòa án xem xét đánh giá.

Bà N xuất trinh giấy thanh toán công nợ ghi ngày 15/9/2015, nô ̣i dung giấy

̀ thanh toán công nợ ghi rõ tổng số nợ đến nay là 530.000.000đ đa trã ̉ 30.000.000đ còn la ̣i 500.000.000đ, đa đượ̃

c bà D xác nhâ ̣n bằng chữ ký của minh. Ta ̣i phiên tòa

̀ bà D cho rằng giấy thanh toán công nợ trên bi ̣ thay đổi, vợ chồng ông D1 viết thêm vào, sau đó sao chu ̣p để lồng ghép chữ ký, chữ viết của bà. Ta ̣i bản kết luâ ̣n giám đi ̣nh số 1090/GĐKTHS ngày 11/11/2016 của Phòng ky thuâ ̣̃

t hinh sự, Công

̀ an tỉnh Nam Đi ̣nh kết luâ ̣n: Không xác đi ̣nh được thờ i điểm viết đối vớ i nô ̣i dung thanh toán công nợ giữa các bên vào ngày 15/9/2015 và chữ ký, chữ viết trên giấy thanh toán đó là chữ ký, chữ viết sống không sử du ̣ng ky thuâ ̣̃

t sao chép. Cấp sơ thẩm chi căn cứ vào giấy nhâ ̣n nợ ngày 02/5/2012 để chấp nhâ ̣n đơn khở i kiê ̣n của

̉ bà D, là không đúng vớ i bản chất của vu ̣ viê ̣c, làm ảnh hưở ng đến quyền lợi ich

́ hợp pháp của ông D1 bà N.

Đề nghi ̣ Tòa án nhân dân tinh Nam Đi ̣nh xét xử phúc thẩm vu ̣ án theo hướ ng

̉ phân tich ở trên.

́

Ta ̣i phiên tòa phúc thẩm, bà D giữ nguyên đơn khở i kiê ̣n và rút toàn bô ̣ đơn kháng cáo.

Ngườ i bảo vê ̣ quyền và lợi ich hợp pháp của bà D trinh bày:

́

̀

Giấy vay tiền ngày 02/5/2012 do bà N viết và ký, vay của bà D 3 tỷ đồng, thờ i ha ̣n vay 1 tháng lai suẫ

́t theo thỏa thuâ ̣n là hợp pháp vi đa thõ ̉a man cã

́c Điều

̀ 471, Điều 474, Điều 476 và khoản 2 Điều 478 BLDS thuô ̣c trườ ng hợp vay có kỳ ha ̣n có lai. Ta ̣̃

i phiên tòa bà D rút kháng cáo chỉ yêu cầu ông D1 bà N phải thanh toán tiền gốc là 3 tỷ đồng. Bi ̣ đơn trinh bày bà D dùng ngườ i xa hô ̣̃ i đen ép bà N

̀

phải viết giấy vay tiền ngày 02/5/2012 vào khoảng tháng 9/2013 đẩy thờ i gian về trướ c. Ông D1 đa cõ ́ đơn kêu cứ u gử i Công an huyê ̣n Hải Hâ ̣u và Công an huyê ̣n Hải Hâ ̣u đa cõ ́ thông báo trả lờ i không có dấu hiê ̣u vu ̣ án hinh sự và từ đó đến nay

̀ ông D1 không có khiếu na ̣i, nên không có căn cứ chấp nhâ ̣n lờ i trinh bày của phia

̀

́ bi ̣ đơn.

Bi ̣ đơn chỉ xác nhâ ̣n vay của bà N 530 triê ̣u đồng theo các giấy biên nhâ ̣n ngày 16/9/2011, 22/9/2011, 04/9/2011. Nhưng viê ̣c vay nợ giữa bà D và bà N, từ năm 2007 đến năm 2011 đa thanh toã

́n xong, trong đó có ba giấy vay tiền này và bà D đa trã ̉ la ̣i giấy biên nhâ ̣n nợ cho bà N, khoản tiền vay 530 triê ̣u đồng có trướ c giấy vay tiền 3 tỷ đồng. Bà D chỉ khở i kiê ̣n đòi bà N khoản vay 3 tỷ. Nên viê ̣c xuất trinh bản gốc đối vớ i khoản tiền 530 triê ̣u đồng không làm thay đổi nô ̣i

̀ dung vu ̣ án. Nếu phia bi ̣ đơn cho rằng chưa thanh toán khoản 530 triê ̣u đồng cho

́ nguyên đơn thi nguyên đơn se khỡ

̉ i kiê ̣n bằng vu ̣ án khác.

̀

Về vai trò của ông D1: Có căn cứ xác đi ̣nh ông D1 tham gia cùng bà N vay tiền, ông D1 và bà N đa go ̣̃ i điê ̣n nhiều lần cho bà D, để thuyết phu ̣c bà D, gom tiền cho vay bằng viê ̣c đầu tư vào cây xăng và ông D1 điê ̣n cho bà D đến nhà nhâ ̣n tiền vào ngày 12/9/2015, bà D đến ông D1 đa đưa cho 30 triê ̣̃

u đồng và tờ giấy để bà D viết, sau đó ông D1 viết chèn các nô ̣i dung sai lê ̣ch vào tờ giấy thanh toán tiền ngày 12/9/2015.

Do vâ ̣y, đề nghi ̣ HĐXX buô ̣c ông D1 bà N trả nợ gốc 3 tỷ đồng cho bà D.

Ông C là ngườ i đa ̣i diê ̣n theo ủy quyền của bà N giữ nguyên đơn kháng cáo và trinh bày:

̀

Đề nghi ̣ hủy án sơ thẩm do cấp sơ thẩm vi pha ̣m nghiêm tro ̣ng tố tu ̣ng, viê ̣c xét xử chưa khách quan xem xét đánh giá chứ ng cứ 1 chiều cu ̣ thể:

*) Về tố tu ̣ng:

Xác đi ̣nh ông D1 tham gia tố tu ̣ng vớ i tư cách là ngườ i có quyền lợi nghiã vu ̣ liên quan là không đúng, trong đơn khở i kiê ̣n và các biên bản hòa giải nguyên đơn cho rằng viê ̣c vay nợ có cả ông D1. Bản án sơ thẩm la ̣i chấp nhâ ̣n yêu cầu khở i kiê ̣n của bà D đòi tài sản đối vớ i ông D1 bà N là hợp pháp. Viê ̣c xác đi ̣nh sai tư cách tố tu ̣ng của ông D đa ã ̉nh hưở ng đến quyền và nghia vu ̣̃

tố tu ̣ng quy đi ̣nh ta ̣i Điều 68 BLTTDS.

Cấp sơ thẩm không lấy mẫu chữ ký, chữ viết của bà N và ông D1 để làm mẫu so sánh, khi giám đi ̣nh mà la ̣i căn cứ vào các phong bi thư và các thông báo

̀ tố tu ̣ng để làm mẫu so sánh là vi pha ̣m khoản 6 Điều 95 BLTTDS.

Về nô ̣i dung: Xác đi ̣nh bà N chỉ vay của bà D 530 triê ̣u đồng, theo các giấy biên nhâ ̣n ngày 04/11/2011; ngày 22/9/2011; ngày 16/9/2011. Ngày 12/9/2015 đa ̃ trả 30 triê ̣u đồng gốc còn nợ là 500.000đ. Bà D khở i kiê ̣n, buô ̣c bi ̣ đơn trả 3 tỷ đồng theo giấy biên nhâ ̣n ngày 02/5/2012 là không có thâ ̣t, mà bà D đa dũ ̀ng xa ̃ hô ̣i đen ép bà N viết giấy biên nhâ ̣n này. Trong quá trinh giải quyết vu ̣ án, bà D

̀ khai có nhiều mâu thuẫn, lúc khai viê ̣c vay 3 tỷ chỉ có bà N, lúc khai có cả ông D1 bà N. Ta ̣i phiên tòa sơ thẩm nguyên đơn khẳng đi ̣nh không có 3 giấy biên nhâ ̣n tổng là 530 triê ̣u đồng, do ta ̣i thờ i điểm đó bi ̣ đơn chưa tim thấy bản gốc,

̀ khi tim thấy bản gốc nguyên đơn thay đổi lờ i khai, đa thanh toã

́n xong khoản 530

̀ triê ̣u đồng. Không nhất tri yêu cầu khở i kiê ̣n về khoản 3 tỷ đồng theo giấy biên

́ nhâ ̣n ngày 02/5/2012.

Đề nghi ̣ tiến hành giám đi ̣nh thờ i điểm chữ viết và chữ ký của bà D và ông D1 ta ̣i giấy thanh toán công nợ ngày 12/9/2015 để làm căn cứ giải quyết vu ̣ án.

Về phần án phi do nguyên đơn đòi la ̣i tài sản, án sơ thẩm buô ̣c ông D1 bà N

́ nô ̣p 91 triê ̣u đồng là không có căn cứ . Xác đi ̣nh đây là vu ̣ án không có giá nga ̣ch. Do vâ ̣y, đề nghi ̣ hủy án sơ thẩm.

Ông D1 giữ nguyên đơn kháng cáo và trinh bày: Ông không biết viê ̣c bà N

̀

vay nợ bà D, đến khi bà D đến đòi 30 triê ̣u đồng ông mớ i biết viê ̣c bà N vay nợ bà D 530 triê ̣u đồng. Bà D đa đưa ngưỡ

̀ i xa hô ̣̃ i đen đến đe do ̣a ta ̣i nhà riêng ở tổ dân phố số 1 thi ̣ trấn Y và quy tĩ n du ̣ng và UBND thi ̣ trấn vào tháng 9 năm 2013

́ ép bà N viết giấy nhâ ̣n nợ 3 tỷ đồng. Không nhất tri yêu cầu khở i kiê ̣n bà D.

́

Ta ̣i phiên tòa phúc thẩm, Kiểm sát viên-Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định phát biểu ý kiến: Trong quá trình giải quyết vụ án tại cấp phúc thẩm, Hội đồng xét xử và Thư ký đã tuân theo các quy định của pháp luật tố tụng dân sự, các đương sự chấp hành đúng các quy định pháp luật tố tụng, quyền lợi của các đương sự được bảo đảm. Về đường lối giải quyết vụ án, ta ̣i phiên tòa Kiểm sát viên rút toàn bô ̣ kháng nghi ̣ của Viê ̣n kiểm sát nhân dân huyê ̣n Hải Hâ ̣u.

Về tư cách tố tu ̣ng cấp sơ thẩm đa đưa ông D1 tham gia tỗ

́ tu ̣ng vớ i tư cách là ngườ i có quyền lợi nghia vu ̣̃

liên quan đến vu ̣ án, ông D1 đa thự̃

c hiê ̣n các quyền của đương sự nên quyền lợi của ông D1 được bảo đảm.

Viê ̣c lấy mẫu chữ ký, chữ viết của ông D1 bà N, để so sánh khi tiến hành giám đi ̣nh. Cấp sơ thẩm, ngoài viê ̣c lấy mẫu chữ viết ở phong bi thư, biên bản

̀ thông báo thu ̣ lý vu ̣ án, thông báo phiên hòa giải, biên bản giao giấy triê ̣u tâ ̣p, còn lấy mẫu so sánh ta ̣i biên bản lấy lờ i khai, giấy biên nhâ ̣n vay tiền. Do vâ ̣y, bi ̣ đơn cho rằng cấp sơ thẩm vi pha ̣m khoản 6 Điều 95 BLTTDS không có căn cứ .

Bi ̣ đơn khai không vay 3 tỷ đồng của bà D, nhưng không đưa ra được chứ ng cứ chứ ng minh. Viê ̣c bi ̣ đơn khai bà N viết giấy biên nhâ ̣n 3 tỷ bi ̣ ép nhưng không chứ ng minh được, ông D1 đa cõ ́ đơn kêu cứ u tớ i Công an huyê ̣n Hải Hâ ̣u, Công an đa kết luâ ̣̃

n không có dấu hiê ̣u vu ̣ án hinh sự. Ta ̣i cấp phúc thẩm Tòa án đa yêu cẫ

̀u

̀

Công an thi ̣ trấn Y, Tổ dân phố số 1 thi ̣ trấn Y, quy tĩ n du ̣ng thi ̣ trấn Y, UBND thi ̣

́ trấn Y nhưng không có căn cứ xác đi ̣nh bà N bi ̣ ép buô ̣c viết giấy vay 3 tỷ đồng nên, lờ i trinh bày của ông D1 bà N không có cơ sở .

̀

Về 3 giấy biên nhâ ̣n vớ i tổng số tiền 530 triê ̣u đồng, bà N đa thanh toã

́n xong cho bà D, bà D trả la ̣i giấy biên nhâ ̣n, khoản vay 3 tỷ đồng có sau khoản vay 530 triê ̣u đồng nên không có căn cứ chấp nhâ ̣n lờ i trinh bày của bi ̣ đơn xác nhâ ̣n chỉ

̀ vay bà D 530 triê ̣u đồng. Ta ̣i kết luâ ̣n số 1090 ngày 11/11/2016 của Công an tỉnh Nam Đi ̣nh kết luâ ̣n chữ viết tổng số tiền nợ đến ngày 12/9/2015 là 530.000.000đ - 30.000.000đ còn 500.000.000đ là của ông D1, nên không có cơ sở xác đi ̣nh bi ̣ đơn còn nợ 500 triê ̣u đồng.

Bà D khở i kiê ̣n đòi la ̣i tài sản nên án phi dân sự sơ thẩm thuô ̣c trườ ng hợp

́

không có giá nga ̣ch. Căn cứ khoản 2 Điều 308 BLTTDS, sử a án sơ thẩm.

NHẬN ĐI ̣NH CỦ A TÒ A Á N:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình tranh tụng tại phiên tòa phúc thẩm, Hội đồng xét xử xét thấy:

Về tố tu ̣ng:

[1] Ta ̣i đơn khở i kiê ̣n của bà Mai Thi ̣ D và quá trinh giải quyết vu ̣ án, bà D

̀ đều khai viê ̣c vay 3 tỷ đồng có cả ông D1, bà N và đều đề nghi ̣ buô ̣c bà N, ông D1 phải trả cho bà D 3 tỷ đồng. Cấp sơ thẩm xác đi ̣nh ông D1 tham gia tố tu ̣ng vớ i tư cách là ngườ i có quyền lợi, nghia vu ̣̃

liên quan đến vu ̣ án là chưa đúng quy đi ̣nh ta ̣i khoản 3 Điều 68 BLTTDS. Tuy nhiên, ông D đa đượ̃

c tham gia tố tu ̣ng giải quyết vu ̣ án kể từ khi thu ̣ lý vu ̣ án giải quyết theo thủ tu ̣c sơ thẩm, nên quyền lợi, nghia vu ̣̃

của ông D đa đượ̃

c bảo đảm.

[2] Về viê ̣c cấp sơ thẩm không lấy mẫu chữ ký, chữ viết của bà N và ông D1 để làm mẫu so sánh khi giám đi ̣nh, mà la ̣i căn cứ vào các phong bi thư, các thông

̀ báo tố tu ̣ng để làm mẫu so sánh là vi pha ̣m khoản 6 Điều 95 BLTTDS. Xét thấy, quyết đi ̣nh giám đi ̣nh số 17/2016/QĐ -TCGĐ ngày 17/10/2016 của Tòa án huyê ̣n Hải Hâ ̣u chỉ tiến hành giám đi ̣nh chữ viết của ông D1, bà N, bà D ta ̣i giấy thanh toán ngày 12/9/2015, mà không tiến hành giám đi ̣nh chữ ký của ông D1, bà N. Căn cứ vào biên bản giao nhâ ̣n tài liê ̣u giám đi ̣nh giữa Tòa án huyê ̣n Hải Hâ ̣u và Phòng ky thuâ ̣̃

t hinh sự, Công an tinh Nam Đi ̣̉

nh và căn cứ vào kết luâ ̣n giám

̀ đi ̣nh số 1090 ngày 11/11/2016 của Phòng ky thuâ ̣̃

t hinh sự, phản ánh tài liê ̣u mẫu

̀ để so sánh, ngoài mẫu so sánh là phong bi thư có ghi nô ̣i dung “ Gử i em T chuyển

̀

sang Tòa án Hải Hâ ̣u giúp: Anh D1” Phong bi thư có ghi nô ̣i dung: Ngườ i

̀ gử i/From: Pha ̣m Thi ̣ Thúy N - TDP số 1 - Thi ̣ trấn Y; Ngườ i nhâ ̣n/To: Kinh gử i

́ lanh đa ̣̃

o Tòa án nhân dân huyê ̣n Hải Hâ ̣u – Nam Đi ̣nh, còn có các biên bản giao giấy triê ̣u tâ ̣p, biên bản thông báo về phiên hòa giải, biên bản thông báo thu ̣ lý vu ̣ án, giấy biên nhâ ̣n tiền, biên bản lấy lờ i khai. Như vâ ̣y, cấp sơ thẩm đa lẫ ́y mẫu chữ viết để so sánh khi giám đi ̣nh là phù hợp vớ i quy đi ̣nh của pháp luâ ̣t, nên không có căn cứ chấp nhâ ̣n lờ i trinh bày củ a bi ̣ đơn.

̀

[3] Về viê ̣c đề nghi ̣ giám đi ̣nh chữ viết của ông D1, bà D ta ̣i giấy thanh toán công nợ ngày 12/9/2015 có cùng thờ i điểm không ?. Xét thấy, cấp sơ thẩm đa rã quyết đi ̣nh trưng cầu giám bổ sung số 18/2016/QĐ - TCGĐ ngày 05/12/ 2016 về thờ i điểm viết ta ̣i giấy thanh toán công nợ ngày 12/9/2015. Ta ̣i công văn số 865/C54 - P5 ngày 13/12/2016 của Viê ̣n khoa ho ̣c - Tổng cu ̣c cảnh sát, trả lờ i căn cứ vào Điều 11, Điều 24 Luâ ̣t giám đi ̣nh tư pháp số 13/2012/QH13 Viê ̣n khoa ho ̣c hinh sự hoàn trả la ̣i Tòa án nhân dân huyê ̣n Hải Hâ ̣u toàn bô ̣ tài liê ̣u như đa liê ̣̃ t kê ̀ trong Quyết đi ̣nh trưng cầu giám đi ̣nh trên, do vượt quá khả năng chuyên môn. Vi

̀ vâ ̣y, đề nghi ̣ của bi ̣ đơn không được chấp nhâ ̣n.

[4] Ta ̣i phiên tòa phúc thẩm, Kiểm sát viên - Viê ̣n kiểm sát nhân dân tinh

̉ Nam Đi ̣nh rút toàn bô ̣ quyết đi ̣nh kháng nghi ̣ số 01/QĐ/KNPT ngày 25/01/2017 của Viê ̣n kiểm sát nhân dân huyê ̣n Hải Hâ ̣u, kháng nghi ̣ đối vớ i bản án dân sự sơ thẩm số 01/2017/DS-ST ngày 12/01/2017 của Tòa án nhân dân huyê ̣n Hải Hâ ̣u và bà D rút toàn bô ̣ kháng cáo. Căn cứ khoản 3 Điều 284, Điều 289 BLTTDS, HĐXX đinh chi xét xử phúc thẩm đối vớ i nô ̣i dung kháng nghi ̣ của Viê ̣n kiểm sát

̀

̉ nhân dân huyê ̣n Hải Hâ ̣u và kháng cáo của bà D.

Về nô ̣i dung:

[5] Đối vớ i giấy biên nhâ ̣n vay 3 tỷ đồng ngày 02/5/2012: Xét thấy, trong quá trinh giải quyết vu ̣ án và ta ̣i phiên tòa bà N, ông D1 đều xác nhâ ̣n chữ viết,

̀ chữ ký ta ̣i giấy biên nhâ ̣n ngày 02/5/2012 là chữ viết, chữ ký của bà N. Nhưng viê ̣c viết giấy biên nhâ ̣n này, do bà D dùng ngườ i xa hô ̣̃ i đen ép buô ̣c bà N viết và viết lùi thờ i gian về trướ c (ngày 2/5/2012), trong khi đó, bà N ông D1 không đưa ra được tài liê ̣u, chứ ng cứ , chứ ng minh do bi ̣ ép buô ̣c. Mă ̣t khác, theo lờ i trinh

̀ bày của bà N, ông D1 bi ̣ ép buô ̣c viết giấy vay 3 tỷ vào tháng 9/2013, nhưng đến ngày 28/12/2015 ông D1 mớ i có đơn kêu cứ u gử i Công an Huyê ̣n H. Quá trinh

̀ điều tra, xác minh, ta ̣i thông báo số 11 ngày 02/3/2016 Cơ quan cảnh sát điều tra, Công an huyê ̣n H đa kết luâ ̣̃

n nô ̣i dung đơn kêu cứ u của ông Pha ̣m Ngo ̣c D1 không có dấu hiê ̣u của vu ̣ án hinh sự. Ta ̣i cấp phúc thẩm, Tòa án đa yêu cẫ

̀u Công

̀ an thi ̣ trấn Y, Ủ y ban nhân dân thi ̣ trấn Y, Quy tin du ̣ng thi ̣ trấn Y, Tổ trưở ng-Tổ

̃ ́

dân phố số 1 thi ̣ trấn Y cung cấp tài liê ̣u chứ ng cứ về viê ̣c bà Mai Thi ̣ D cùng mô ̣t số đối tượng xa hô ̣̃ i đen có hành vi đe do ̣a ép buô ̣c bà Pha ̣m Thi ̣ Thúy N viết giấy nhâ ̣n nợ 3 tỷ đồng ngày 02/5/2012, theo quyết đi ̣nh yêu cầu cung cấp tài liê ̣u chứ ng cứ số 42/2017/QĐ-CCTLCC ngày 28/6/2017. Nhưng các cơ quan, tổ chứ c này, đều không biết viê ̣c bà D dùng ngườ i xa hô ̣̃ i đen ép bà N phải viết giấy vay nợ 3 tỷ đồng. Vi vâ ̣y, không có căn cứ chấp nhâ ̣n lờ i trinh bày của bi ̣ đơn.

̀

̀

[6] Bi ̣ đơn khai bà D ép bà N viết giấy vay tiền 3 tỷ đồng để đòi tiền ông Lâm Ngo ̣c V và bà Pha ̣m Thi ̣ D, nếu đòi được tiền se trã ̉ la ̣i bà N giấy vay nợ khống 3 tỷ. Căn cứ lờ i khai của ông V bút lu ̣c số 75 phản ánh ông V không quan hê ̣ làm ăn vớ i bà D, từ trướ c đến nay chưa thấy bà D đến gă ̣p ông V. Ông V không liên quan đến viê ̣c vay tiền giữa vợ chồng N D1 vớ i bà D. Còn bà D phủ nhâ ̣n toàn bô ̣ lờ i khai của bà N ông D1. Vi vâ ̣y, không có căn cứ chấp lờ i khai

̀

này của bi ̣ đơn.

[7] Căn cứ vào giấy vay 3 tỷ đồng ngày 02/5/2012 chỉ có chữ ký của bà N, không có chữ ký của ông D1. Mă ̣t khác, ông D1 khai ngày 12/9/2015 bà D đến nhà ông D1 đòi 30.000.000đ thi ông D1 mớ i biết bà N vay 530 triê ̣u đồng của bà

̀ D, bà N khai chỉ vay của bà D 530 triê ̣u đồng để trả nợ ông V bà D. Bà N ông D1 khẳng đi ̣nh khoản nợ 3 tỷ đồng theo giấy biên nhâ ̣n ngày 02/5/2012 là không có thâ ̣t. Còn bà D khai viê ̣c vay nợ 3 tỷ đồng có cả bà N và ông D1 nhâ ̣n tiền nhưng không có ngườ i làm chứ ng. Ông D1 khai có viết vào giấy thanh toán công nợ ngày 12/9/2015 vớ i nô ̣i dung tổng số tiền đến ngày 12/9/2015 là 530.000.000đ - 30.000.000đ còn 500.000.000đ, nhưng ông D1 khai đây là số nợ của khoản tiền 530 triê ̣u đồng. Do vâ ̣y, không có căn cứ xác đi ̣nh khoản vay 3 tỷ đồng có ông D1 tham gia và vay vào mu ̣c đich sử du ̣ng chung của gia đinh. Nên chỉ buô ̣c bà N

́

̀ phải trả cho bà D 3 tỷ đồng theo giấy vay tiền ngày 02/5/2012. Ngày 12/9/2015 đa thanh toã

́n cho bà D 30.000.000đ còn nợ là 2.970.000.000đ.

[8] Đối vớ i viê ̣c bi ̣ đơn khai chi vay bà D tổng số tiền 530 triê ̣u đồng theo 3

̉

giấy biên nhâ ̣n ngày 4/11/2011 vay là 130.000đ, giấy biên nhâ ̣n ngày 22/9/2011 vay là 200.000đ, giấy biên nhâ ̣n ngày 16/9/2011 vay là 200.000đ. Xét thấy, tổng số tiền 530 triê ̣u đồng bà N vay, theo 3 giấy biên nhâ ̣n giấy vào tháng 9 và tháng 11 năm 2011, còn giấy vay tiền 3 tỷ đồng vào năm 2012. Đây là 2 khoản tiền khác nhau, bà N đa thanh toã

́n xong khoản tiền 530 triê ̣u đồng cho bà D và bà D trả la ̣i cho bà N 3 giấy vay tiền năm 2011, bà N không hủy đi mà giữ la ̣i. Mă ̣t khác, bà D không khở i kiê ̣n đối vớ i số tiền 530 triê ̣u đồng này. Ta ̣i giấy thanh toán ngày 12/9/2015 ông D1 có ghi tổng số nợ đến ngày 12/9/2015 còn là 500 triê ̣u đồng nhưng bà D phủ nhâ ̣n số nợ này. Vi vâ ̣y, không có căn cứ xác đi ̣nh bi ̣

̀

đơn còn nợ nguyên đơn là 500.000.000đ.

[9] Về án phi dân sự sơ thẩm: Bà D khở i kiê ̣n đòi bà N trả 3 tỷ đồng theo

́ giấy biên nhâ ̣n ngày 02/5/2012. Nên phải chi ̣u án phi dân sự sơ thẩm không có

́ giá nga ̣ch. Yêu cầu khở i kiê ̣n của bà D được chấp nhâ ̣n, bà D không phải nô ̣p án phi dân sự sơ thẩm, bà N phải nô ̣p án phi dân sự sơ thẩm. Do vu ̣ án được thu ̣ lý

́

́

giải quyết theo thủ tu ̣c sơ thẩm từ ngày 16/3/2016, nên án phi dân sự sơ thẩm áp

́ du ̣ng Pháp lê ̣nh án phi, lê ̣ phi Tòa án để giải quyết nên bà N phải nô ̣p án phi dân

́

́

́ sự sơ thẩm là 200.000đ.

[10] Theo biên bản phiên tòa sơ thẩm, bà D trinh bày rút yêu cầu tinh laĩ

̀

́ suất và khoản tiền bà D yêu cầu bà N ông D1 bồi thườ ng thiê ̣t ha ̣i là 2.280.000.000đ chinh là khoản tiền lai, mã

̀ bà D tinh theo lai suẫ

́t Ngân hàng từ

́

́ khi vay đến nay trên nợ gốc 3 tỷ đồng. Như vâ ̣y, theo nguyên đơn khoản tiền laĩ và khoản tiền bồi thườ ng thiê ̣t ha ̣i là mô ̣t, ta ̣i phiên tòa sơ thẩm bà D đa rũ ́t yêu cầu tinh lai suẫ

́t nhưng cấp sơ thẩm la ̣i quyết đi ̣nh xử bác yêu cầu tinh lai suẫ

́t là

́

́ chưa phù hợp. Theo quy đi ̣nh khoản 2 Điều 244 BLTTDS thi cấp sơ thẩm phải

̀ đinh chỉ xét xử đối vớ i viê ̣c rút yêu cầu khở i kiê ̣n này của nguyên đơn, do vâ ̣y ̀ Hô ̣i đồng xét xử sử a la ̣i phần này cho phù hợp quy đi ̣nh của pháp luâ ̣t.

[11] Do sử a bản án sơ thẩm nên các đương sự kháng cáo không phải nô ̣p án phi dân sự phúc thẩm.

́

Vi các le trên,̃

̀

́

QUYÊT ĐI ̣NH:

Áp dụng khoản 2 Điều 308, khoản 2 Điều 244, khoản 3 Điều 284, Điều 289 Bô ̣ luâ ̣t tố tu ̣ng dân sự, các Điều 471; 473; 474, khoản 2 Điều 478 Bộ luật dân sự năm 2005; khoản 2 Điều 357; khoản 2 Điều 468 Bô ̣ luâ ̣t dân sự năm 2015; Pháp lệnh án phí, lệ phí Toà án. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Chấp nhâ ̣n mô ̣t phần kháng cáo của bà Pha ̣m Thi ̣ Thúy N và ông Pha ̣m Ngo ̣c D1. Sử a án sơ thẩm về viê ̣c không buô ̣c ông Pha ̣m Ngo ̣c D1 phải cùng vớ i bà Pha ̣m Thi ̣ Thúy N trả nợ cho bà Mai Thi ̣ D và đinh chỉ viê ̣c xét xử về yêu cầu

̀ tinh lai suẫ

́t và phần án phi dân sự sơ thẩm. ́

́

1. Đình chi viê ̣c xét xử phúc thẩm đối vớ i quyết đi ̣nh kháng nghi ̣ số

̉ 01/QĐ/KNPT ngày 25/01/2017 của Viê ̣n kiểm sát nhân dân huyê ̣n Hải Hâ ̣u, tỉnh Nam Đi ̣nh kháng nghi ̣ đối vớ i bản án dân sự sơ thẩm số 01/2017/DS-ST ngày 12/01/2017 của Tòa án nhân dân huyê ̣n Hải Hâ ̣u và đinh chi viê ̣̉

c xét xử phúc

̀ thẩm đối vớ i kháng cáo của bà Mai Thi ̣ D.

Đinh chỉ xét xử về viê ̣c bà Mai Thi ̣ D khở i kiê ̣n yêu cầu tinh lai suẫ

́t đối vớ i

̀

́ số tiền 3 tỷ đồng.

2. Xử chấp nhận mô ̣t phần yêu cầu khởi kiện của bà Mai Thị Duyên.

3. Buộc bà Phạm Thị Thúy N phải có trách nhiệm trả cho bà Mai Thị D số tiền 2.970.000.000đ (Hai tỷ chin trăm bảy mươi triê ̣u đồng).

́

4. Á n phi dân sự phúc thẩm: Bà Phạm Thị Thúy N, ông Phạm Ngọc D1 và

́ bà Mai Thi ̣ D không phải nô ̣p, hoàn la ̣i cho bà N, ông D1 và bà D số tiền ta ̣m ứ ng án phi dân sự phúc thẩm mỗi ngườ i đa nô ̣̃ p là 300.000đ theo biên lai số 08837

́ ngày 20/01/2017 và biên lai số 08838 ngày 20/01/2017 và biên lai số 08840 ngày 24/01/2017 của Chi cu ̣c Thi hành án dân sự huyê ̣n Hải Hâ ̣u.

5. Á n phi dân sự sơ thẩm: Bà Phạm Thị Thúy N phải nô ̣p 200.000đ.

́

Hoàn la ̣i cho bà Mai Thi ̣ D số tiền đa nô ̣̃ p ta ̣m ứ ng án phi dân sự sơ thẩm là

́ 10.000.000đ theo biên lai số 06938 ngày 16/3/2016 của Chi cu ̣c Thi hành án dân sự huyê ̣n Hải Hâ ̣u.

Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu Thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án. Nơi nhận:

Cỡ chữ