- Tranh chấp gì? án hình sự — "NGUYỄN TUẤN A - GÂY RỐI TRẬT TỰ CÔNG CỘNG - gây rối trật tự công cộng (điều 318 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂNDÂN KHU VỰC 2 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 249/2026/HS-ST Ngày: 06/02/2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Minh Vương
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Huỳnh Thị Thanh Thảo
2. Ông Cao Quốc Hưng
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Thế Vinh – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 2 – Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân khu vực 2 – Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Trịnh Thị Hải - Kiểm sát viên.
Trong ngày 06/02/2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 2 – Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 669/2025/HSST ngày 18/12/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 79/2026/QĐXXST-HS ngày 13/01/2026 và Quyết định hoãn phiên tòa số 33/2026/QĐST-HS ngày 28/01/2026, đối với bị cáo:
Nguyễn Tuấn A; sinh năm: 1992 tại tỉnh Bạc Liêu (nay là tỉnh Cà Mau); CCCD số ***; Thường trú: Ấp X, xã X, thị xã X, tỉnh Bạc Liêu (nay là khóm X, phường X, tỉnh Cà Mau); Nơi ở: X X, tổ X, khu phố X, phường X, Thành phố X, tỉnh Bình Dương (nay là X X, tổ X, khu phố X, phường X, Thành phố Hồ Chí Minh); nghề nghiệp: xe ôm công nghệ; trình độ văn hoá: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Thanh T và bà Dương Lệ C; bị cáo là con duy nhất trong gia đình; bị cáo chưa có vợ con.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/3/2025 cho đến nay.
(bị cáo có mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1/ Anh NLQ1, sinh năm 1972 (vắng mặt)
Địa chỉ: X X, phường X, thành phố X (nay là phường X), Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 5 giờ 30 phút ngày 22/3/2025, anh NLQ1 điều khiển xe buýt số 19, biển số 51B-323.27 của Hợp tác xã 19/5 chạy tuyến Bến Thành Đại học Quốc gia. Khi anh NLQ1 đang điều khiển xe buýt chạy trên đường Quốc lộ 13, đến đoạn cầu Ông Dầu thuộc phường Hiệp Bình Phước, thành phố X, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là phường Hiệp Bình, Thành phố Hồ Chí Minh) thì Nguyễn Tuấn A (chạy xe ôm công nghệ "Bee") điều khiển xe mô tô chạy phía trước cùng chiều lấn ngoài phần đường xe buýt nên anh NLQ1 bóp còi cho Tuấn A chạy sát vào bên phải để xe buýt chạy lên. Khi đi ngang qua xe mô tô thì anh NLQ1 thấy Tuấn A dùng tay ra hiệu ngoắc anh NLQ1 xuống. Anh NLQ1 không nói gì và tiếp tục chạy xe,Tuấn A điều khiển xe đuổi theo phía sau. Khi anh NLQ1 điều khiển xe đến trạm xe buýt trước địa chỉ 486 Quốc lộ 13, khu phố 34, phường Hiệp Bình Phước (nay là phường Hiệp Bình) thì có người phụ nữ đứng tại bến vẫy lên xe buýt nên anh NLQ1 tấp xe vào lề đường để đón khách. Khi anh NLQ1 đang dừng xe để chờ khách lên xe thì anh Tuấn A chạy đến đậu sát lề xe buýt, sau đó lên xe từ cửa lên xuống phía sau đi lại về hướng anh NLQ1, dùng chân đá anh NLQ1 01 cái vào mặt, rồi tiếp tục dùng tay đánh khoảng 4-5 cái vào người anh NLQ1. Sau đó, anh Nguyễn Nhật H là phụ xe chạy tới can ngăn nhưng Tuấn A vẫn tiếp tục dùng tay đánh thêm một, hai cái. Khi đi ra cửa phía sau để xuống xe, Tuấn A vẫn tiếp tục dùng tay chỉ và chửi anh NLQ1, sau đó mới xuống xe. Thời điểm Tuấn A thực hiện hành vi trên thì trên xe buýt có 6 – 7 hành khách. Qua ghi nhận, anh NLQ1 bị chấn thương phần mềm vùng tay trái (03 vết trầy da trên cánh tay trái).
Ngày 24/3/2025, anh NLQ1 có đơn không yêu cầu xử lý hình sự đối với Tuấn A về hành vi cố ý gây thương tích và từ chối giám định thương tích.
Ngày 25/3/2025, Uỷ ban nhân dân phường Hiệp Bình Phước, Thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là Ủy ban nhân dân phường Hiệp Bình, Thành phố Hồ Chí Minh) có công văn số 319/UBND về việc trao đổi thông tin liên quan về an ninh, trật tự, an toàn xã hội tại địa bàn phường. Theo nội dung công văn thì hành vi của Tuấn A thể hiện sự lưu manh, côn đồ, hung hãn xem thường pháp luật. Vụ việc xảy ra có tác động xấu đến tình hình an ninh trật tự, an toàn xã hội tại địa phương, tạo dư luận xấu đến quần chúng nhân dân tại khu vực xảy ra vụ việc; gây sự hoang mang lo sợ, bức xúc, phẫn nộ trong nhân dân. Đồng thời, Uỷ ban nhân dân phường Hiệp Bình Phước (nay là Ủy ban nhân dân phường Hiệp Bình, Thành phố Hồ Chí Minh) kiến nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh điều tra xử lý nghiêm trước pháp luật để răn đe, hạn chế các đối tượng và hành vi vi phạm pháp luật tương tự xảy ra.
* Thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật và xử lý vật chứng:
- 01 xe mô tô hiệu Honda Lead màu đỏ biển số 17B4-441.73. Qua xác minh chủ sở hữu là anh Lê Văn T. Ngày 02/3/2025, Nguyễn Tuấn A đã mua xe máy trên tại cửa hàng xe máy An Lộc (hợp đồng mua bán kèm theo giấy tờ xe nhưng chưa làm thủ tục sang tên).
- 01 giấy mua bán xe, 01 biên nhận cầm đồ, 01 căn cước công dân mang tên Lê Văn T (phô tô).
- 01 áo khoác xe ôm công nghệ hiệu "Bee" màu vàng.
- 01 nón bảo hiểm màu xanh có dòng chữ "Gpedition".
Tại Cáo trạng số 192/CT-VKSKV2 ngày 08/12/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 – Thành phố Hồ Chí Minh truy tố Nguyễn Tuấn A để xét xử về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại khoản 1 Điều 318 của Bộ luật hình sự năm 2015, đã được sửa đổi bổ sung năm 2017 và 2025.
Tại phiên tòa:
Bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình như trên, đồng ý với các quyết định tố tụng, hành vi tố tụng của người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng và không khiếu nại hay có ý kiến gì khác.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 – Thành phố Hồ Chí Minh vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Tuấn A về tội danh, khung hình phạt, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và điều luật áp dụng như nội dung Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng khoản 1 Điều 318; điểm i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 và năm 2025:
+ Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tuấn A phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”;
+ Xử phạt bị cáo Tuấn A từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù giam.
Về trách nhiệm dân sự: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu nên không xem xét.
Về xử lý vật chứng: vật chứng trong vụ án gồm 01 xe mô tô hiệu Honda Lead màu đỏ biển số 17B4-441.73, 01 áo khoác xe ôm công nghệ hiệu "Bee" màu vàng, 01 nón bảo hiểm màu xanh có dòng chữ "Gpedition" đã hoàn trả lại cho bị cáo nên không xem xét giải quyết. Đối với 01 giấy mua bán xe, 01 biên nhận cầm đồ, 01 căn cước công dân mang tên Lê Văn T (phô tô) liên quan đến tài sản của bị cáo đề nghị hoàn trả lại cho bị cáo.
Về án phí: Buộc bị cáo chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.
Bị cáo không bào chữa, tranh luận và nói lời sau cùng xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp để tập trung làm ăn, chăm sóc gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng:
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh NLQ1 vắng mặt. Việc vắng mặt của đương sự nêu trên không gây trở ngại cho việc xét xử nên căn cứ khoản 1 Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đương sự nêu trên.
Các quyết định tố tụng, hành vi tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật. Quá trình điều tra, truy tố và xét xử tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo phù hợp với với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 5 giờ 30 phút ngày 22/3/2025, tại trước địa chỉ 486 Quốc lộ 13, Khu phố 34, phường Hiệp Bình Phước, thành phố X, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là phường Hiệp Bình, Thành phố Hồ Chí Minh), Nguyễn Tuấn A đã có hành vi lên xe buýt số 19, biển số 51B-323.27 dùng chân đá anh NLQ1 (tài xế) 01 cái vào mặt, dùng tay đánh khoảng 4-5 cái vào người anh NLQ1. Sau đó, anh Nguyễn Nhật H là phụ xe chạy tới can ngăn nhưng Tuấn A vẫn tiếp tục dùng tay đánh anh NLQ1 thêm một, hai cái nữa. Hơn nữa, khi đi ra cửa phía sau để xuống xe, Tuấn A vẫn tiếp tục dùng tay chỉ và chửi anh NLQ1, sau đó mới xuống xe. Hành vi của Nguyễn Tuấn A là nguy hiểm cho xã hội, không chỉ xâm phạm trực tiếp đến trật tự công cộng, nếp sống văn minh, gây ảnh hưởng xấu đến hoạt động bình thường của mọi người ở những nơi công cộng, gây náo loạn và bức xúc trong quần chúng nhân dân, làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương, nên cần phải xử lý nghiêm để răn đe, giáo dục và phòng ngừa.
Hành vi nêu trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại khoản 1 Điều 318 của Bộ luật hình sự năm 2015, đã được sửa đổi bổ sung năm 2017 và 2025;
Cáo trạng số 192/CT-VKSKV2 ngày 08/12/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 – Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Về tình tiết định khung tăng nặng hình phạt: Không có.
Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự áp dụng đối với bị cáo:
Về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Xét trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; ông nội bị cáo là liệt sĩ nên được xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt theo quy định tại điểm i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 và năm 2025.
Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội, hình phạt đối với bị cáo:
Hội đồng xét xử đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là ít nghiêm trọng. Tuy nhiên, bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý, bị cáo chỉ vì mẫu thuẫn nhỏ khi tham gia giao thông mà bỏ qua những quy tắc thông thường của xã hội gây ra hành vi làm náo loạn, phá vỡ sự ổn định nơi công cộng, ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự của địa phương. Do đó, xét thấy cần phải xử phạt bị cáo với mức án tương xứng, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục bị cáo nói riêng và đấu tranh phòng ngừa tội phạm nói chung trong toàn xã hội.
Tuy nhiên khi lượng hình cần xem xét về nhân thân, các tình tiết tăng năng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. Xét bị cáo thực hiện hành vi phạm tội có tính chất ít nghiêm trọng, nhiều tình tiết giảm nhẹ, thời gian tạm giam đối với bị cáo đã đủ để răn đe, giáo dục bị cáo nhận thức và suy ngẫm về hành vi sai trái của mình, chính sách pháp luật của nhà nước. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng mức hình phạt tù bằng với thời gian tạm giam của bị cáo.
Về xử lý vật chứng:
Đối với 01 xe mô tô hiệu Honda Lead màu đỏ biển số 17B4-441.73. Qua xác minh chủ sở hữu là anh Lê Văn T. Ngày 02/3/2025, Nguyễn Tuấn A đã mua xe máy trên tại cửa hàng xe máy An Lộc (hợp đồng mua bán kèm theo giấy tờ xe nhưng chưa làm thủ tục sang tên); 01 áo khoác xe ôm công nghệ hiệu "Bee" màu vàng và 01 nón bảo hiểm màu xanh có dòng chữ "Gpedition" là các tài sản, vật dụng cá nhân của bị cáo, không liên quan trực tiếp đến hành vi phạm tội của bị cáo nên cơ quan điều tra đã hoàn trả lại cho bị cáo là có căn cứ.
Đối với 01 giấy mua bán xe, 01 biên nhận cầm đồ, 01 căn cước công dân mang tên Lê Văn T (phô tô) liên quan đến tài sản của bị cáo nên cần hoàn trả lại cho bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự:
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Xét đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 – Thành phố Hồ Chí Minh:
Mức hình phạt do Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 – Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị là phù hợp với khung hình phạt do pháp luật quy định nên có căn cứ để chấp nhận. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo đã thực sự ăn năn hối cải về hành vi bồng bột nhất thời và có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên Hội đồng xét xử quyết định mức hình phạt thấp hơn mức đề nghị của Đại diện Viện Kiểm sát cũng đã đảm bảo tính răn đe đối với bị cáo và phù hợp với chính sách khoan hồng của pháp luật.
Về án phí:
Buộc bị cáo chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh :
Căn cứ khoản 1 Điều 318 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 và năm 2025
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tuấn A phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.
2. Về hình phạt:
Áp dụng khoản 1 Điều 318; điểm i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 và năm 2025;
Áp dụng khoản 5 Điều 328 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Tuấn A 10 (mười) tháng 08 (tám) ngày tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Thời gian tù tính từ ngày 29/3/2025.
Thời hạn tù bằng thời hạn tạm giam, trả tự do cho bị cáo Nguyễn Tuấn A tại phiên tòa nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm nào khác.
3. Về xử lý vật chứng:
Áp dụng Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 và năm 2025;
Trả lại cho bị cáo Nguyễn Tuấn A 01 giấy mua bán xe, 01 biên nhận cầm đồ, 01 căn cước công dân mang tên Lê Văn T (phô tô).
(Hiện lưu giữ trong hồ sơ vụ án).
4. Về án phí:
Áp dụng Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
Buộc bị cáo nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo:
Áp dụng Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Công an TP.HCM; - TAND TP.HCM; - VKSND TP.HCM; - VKSND Kv2 – TP.HCM; - Phòng PV06, PC10 - Công an TP.HCM; - Sở Tư pháp TP.HCM; - THADS TP.HCM; - Thi hành án hình sự; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Minh Vương |