vanban.org

Bản án 249/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về bạo lực gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Không công nhận bà Lê Thị P và ông Lê Trường T là vợ chồng.

Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Lê Thị P phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng. Bà Lê Thị P có dự nộp số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0001940 ngày 14 – 10 – 2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Cà Mau, sau khi đối trừ bà P đã nộp đủ án … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về bạo lực gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bản án Hôn nhân và gia đình về việc xin ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Không công nhận bà Lê Thị P và ông Lê Trường T là vợ chồng.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 4 – CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 249/2025/HNGĐ - ST
Ngày: 26 – 12 – 2025
“V/v tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Tuấn Kiệt

Các vị Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Mầm

Ông Nguyễn Văn Sol

-Thư ký phiên tòa: Ông Hồ Văn Mil là Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 4 - Cà Mau.

Ngày 26 tháng 12 năm 2025 tại Tòa án nhân dân Khu vực 4 - Cà Mau, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 236/2025/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 10 năm 2025 về việc “Tranh chấp ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 112/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 11 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Lê Thị P - Sinh năm 1983 (Có mặt).

Cư trú: ấp B, xã Q, tỉnh Cà Mau.

- Bị đơn: Ông Lê Trường T - Sinh năm 1983 (Vắng mặt).

Cùng trú: Ấp N, xã C, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện và tại phiên tòa bà Lê Thị P (Nguyên đơn) trình bày:

Về hôn nhân: Bà và ông T kết hôn năm 2004, không có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng đến năm 2006 thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, không hợp nhau, thường xuyên cự cãi và sống ly thân từ năm 2006 đến nay. Nay bà yêu cầu được ly hôn với ông T.

- Về con chung: Có 01 con chung tên Lê Kiều Phương N, sinh năm 2005. Hiện nay cháu N đã trưởng thành, sức khỏe bình thường nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung: Bà Lê Thị P xác định trong thời gian chung sống không có tài sản chung, bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Bà Lê Thị P xác định trong thời gian chung sống bà và ông T không có nợ ai, cũng không ai nợ vợ chồng ông bà nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với ông Lê Trường T, sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt thông báo thụ lý về yêu cầu của bà P nhưng ông T không có ý kiến. Tòa án thông báo để ông T tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải đến lần thứ hai nhưng ông T vắng mặt không lý do nên Tòa án không thể tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải giữa ông, bà được.

TÒA ÁN NHẬN ĐỊNH:

[1] Về tố tụng: Tòa án đã triệu tập hợp lệ ông Lê Trường T tham gia phiên tòa đến lần thứ hai nhưng ông T vắng mặt không lý do nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông T theo quy định tại Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung tranh chấp của vụ án. Hội đồng xét xử xét thấy:

Về hôn nhân: Bà Lê Thị P và ông Lê Trường T kết hôn vào năm 2004, không có đăng ký kết hôn. Do đó, hôn nhân của bà P và ông T không được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Theo quy định tại khoản 2 Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình thì không công nhận bà Lê Thị P và ông Lê Trường T là vợ chồng.

Về con chung: Có 01 con chung tên Lê Kiều Phương N, sinh năm 2005. Hiện nay cháu N đã trưởng thành, sức khỏe bình thường, bà P không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về tài sản chung: Bà Lê Thị P xác định trong thời gian chung sống bà và ông T không có tài sản chung, bà P không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về nợ chung: Bà Lê Thị P xác định trong thời gian chung sống không nợ ai, cũng không ai nợ vợ chồng ông bà, bà P không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Ông T vắng mặt không có ý kiến về con chung, tài sản và nợ chung nên không đặt ra xem xét. Nếu sau này giữa các bên đương sự có phát sinh tranh chấp về con chung, tài sản chung và nợ chung thì có quyền khởi kiện thành vụ kiện khác theo quy định pháp luật.

[3] Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Lê Thị P phải chịu theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 244, 266, 271 và 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Các Điều 9, 53, 56, 57, 58 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giãm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Về hôn nhân: Không công nhận bà Lê Thị P và ông Lê Trường T là vợ chồng.

Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Lê Thị P phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng. Bà Lê Thị P có dự nộp số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0001940 ngày 14 – 10 – 2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Cà Mau, sau khi đối trừ bà P đã nộp đủ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Ông Lê Trường T không phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Án xử sơ thẩm công khai bà Lê Thị P có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, ông Lê Trường T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

Cỡ chữ