vanban.org

Bản án 249/2023/HSST — Hình sự

TAND huyện Hóc Môn, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 29/09/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Căn c vào khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017:

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Th i hạn tù tính từ ngày 22/5/2023. Căn c vào Điều 46, Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bc Nguyễn Văn Chắt - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Căn c vào khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017:
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HÓC MÔN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 249/2023/HSST
Ngày: 29/9/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÕA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÕA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Thương.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Trần Thị Thu Hương.

2. Bà Nguyễn Thị Kim Liên.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Hiếu Hạnh, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Phú, Kiểm sát viên.

Trong ngày 29 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 232/2023/TLST-HS ngày 13 tháng 9 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 266/2023/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 9 năm 2023 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn C, sinh năm 1993 tại Đồng Nai; nơi thư ng trú: H ấp M, xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi ở hiện nay: Không có nơi cư trú ổn định; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 0/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn Đ và bà: Lê Thị N; bị cáo chưa có v con.

Tiền án: Ngày 18/6/2014, bị Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm xử phạt 07 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo Bản án số 408/2014/HSST, chấp hành xong hình phạt tù ngày 26/01/2019, chưa đóng án phí và chưa thi hành hình phạt bổ sung là phạt tiền 5.000.000 đồng.

Tiền sự: Không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ chuyển tạm giam từ ngày 22/5/2023 tại Nhà tạm giữ Công an huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Lê Văn B, sinh năm 1977.

Nơi cư trú: 120/2C ấp E, xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đư c tóm tắt như sau:

Khoảng 07 gi ngày 22/5/2023, Nguyễn Văn C đi bộ từ hướng Long An qua xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh tìm tài sản để trộm cắp. Khi đi qua nhà số A ấp E, xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh thì phát hiện cửa cổng không khoá, bên trong sân có dựng 01 xe máy Honda Wave S biển số 54Y7-9735 của anh Lê Văn B cắm s n chìa khoá trên xe, không có ngư i trông coi nên lén lút mở cửa đi vào dắt xe ra ngoài đư ng nổ máy tẩu thoát. Trên đư ng đi C nhặt đư c biển số xe 51F55-4554 tại bãi rác thay lên xe máy vừa trộm đư c và v t biển số thật. Chắt tiếp tục đi đến khu vực đư ng N thuộc địa bàn xã T, huyện H thì gặp bạn là Đoàn Minh T đang đi bộ. C đề nghị về nhà T chơi thì T đồng ý và C đưa xe cho T điều khi n chở C về nhà T tại 1 Bà Đ, ấp B, xã B, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh. Do trên xe có gắn thiết bị định vị nên anh Lê Văn B phát hiện vị trí chiếc xe và báo Công an xã X. Công an xã X phối h p Công an xã B thu giữ chiếc xe và m i Nguyễn Văn C và Đoàn Minh T về trụ sở để làm r .

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, Đoàn Minh T khai nhận ch chở C về nhà chơi, không biết và không liên quan đến việc C trộm xe máy, không giao dịch mua xe với Chắt. Nguyễn Văn C thừa nhận toàn bộ hành vi trộm cắp như trên, l i khai của C phù h p với l i khai của Đoàn Minh T và các ch ng c khác.

Kết luận định giá tài sản số 72/KL-HĐĐGTS ngày 25/05/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự, Ủy ban nhân dân huyện H kết luận: 01 xe Honda Wave S biển số 54Y7-9735 trị giá 5.500.000 đồng”.

- Vật ch ng thu giữ:

01 xe máy Honda Wave S biển số 54Y7-9735, số máy HC12E-0049706, số khung RLHHC12068Y025074, màu đ xám đen. Qua xác minh xe do Trương Thanh B1 đ ng tên nhưng đã u quyền và bán cho Lê Văn B nhưng chưa làm thủ tục sang tên. CQĐT có quyết định xử lý vật ch ng trả lại cho Lê Văn B quản lý sử dụng;

01 đoạn kim loại dài 08cm có một đầu hình lục giác, một đầu d p nhọn;

01 đoạn kim loại hình chữ L dài khoảng 14cm;

01 biển kiểm soát 51F5-4551.

- Về dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì khác.

Tại bản cáo trạng số 230/CT-VKSHM ngày 15/9/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn C về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa hôm nay, Nguyễn Văn C khai nhận hành vi như nội dung Cáo trạng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa trình bày l i luận tội giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị:

- Đề nghị tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn C phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

- Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C m c hình phạt từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm tù. Th i hạn tù tính từ ngày 22/5/2023.

- Về vật ch ng của vụ án: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự. Đề nghị tịch thu và tiêu hủy: 01 đoạn kim loại 08 cm có một đầu hình lục giác, một đầu d p nhọn; 01 đoạn kim loại hình chữ L dài khoảng 14cm; 01 biển kiểm soát 51F5-4551.

- Về dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu nên không xem xét.

- Về án phí: Đề nghị buộc bị cáo chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÕA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn c vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đư c tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện H, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và ngư i tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại. Vì vậy, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện là h p pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Căn c l i khai của bị cáo tại phiên tòa phù h p với l i khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù h p với các tài liệu, ch ng c khác trong quá trình điều tra vụ án có đủ cơ sở kết luận: Vào lúc 07 gi 00 phút ngày 22/05/2023, tại trước địa ch A ấp E, xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh, Nguyễn Văn C đã có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 xe máy Honda Wave S biển số 54Y7-9735 trị giá 5.500.000 đồng của anh Lê Văn B.

Hành vi nêu trên của bị cáo Nguyễn Văn C đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[3] Hành vi của bị cáo nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến quyền sở hữu về tài sản của ngư i khác đư c pháp luật bảo vệ. Bị cáo nhận th c đư c hành vi của mình là trái pháp luật nhưng vẫn thực hiện. Hành vi của bị cáo đã làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự của xã hội nên cần có một hình phạt tương x ng để răn đe, giáo dục bị cáo.

[4] Về tình tiết giảm nh trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên áp dụng tình tiết giảm nh trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự là phù h p.

[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã bị kết án, chưa đư c xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý nên thuộc trư ng h p tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

[6] Về vật ch ng của vụ án:

- 01 xe Honda Wave S biển số 54Y7-9735, số máy HC12E-0049706, số khung RLHHC12068Y025074, màu đ xám đen. Qua xác minh xe do Trương Thanh B1 đ ng tên nhưng đã u quyền và bán cho Lê Văn B, nhưng chưa làm thủ tục sang tên. Cơ quan điều tra đã có quyết định xử lý vật ch ng trả lại cho anh Lê Văn B theo quy định nên Hội đồng xét xử không xem xét;

- 01 đoạn kim loại dài 08cm có một đầu hình lục giác, một đầu d p nhọn; 01 đoạn kim loại hình chữ L dài khoảng 14cm; 01 biển kiểm soát 51F5-4551 là công cụ dùng vào việc phạm tội. Hội đồng xét xử quyết định tịch thu tiêu hủy là phù h p.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì khác nên Hội Đ1 xét xử không xem xét.

[8] Về nghĩa vụ chịu án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn c vào khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017:

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Th i hạn tù tính từ ngày 22/5/2023.

- Căn c vào Điều 46, Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:

Tịch thu tiêu hủy: 01 đoạn kim loại dài 08cm có một đầu hình lục giác, một đầu d p nhọn; 01 đoạn kim loại hình chữ L dài khoảng 14cm; 01 biển kiểm soát 51F5-4551.

Vật ch ng nêu trên hiện đang giữ tại kho vật ch ng thuộc Chi cục thi hành án dân sự huyện Hóc Môn theo Quyết định chuyển vật ch ng số 184/QĐ-VKS-HS ngày 13/9/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn và biên bản giao, nhận vật ch ng ngày 13/9/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Hóc Môn.

- Căn c vào khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thư ng vụ Quốc Hội:

Bị cáo Nguyễn Văn C phải chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

- Căn c vào Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:

Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong th i hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong th i hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đư c bản án hoặc ngày bản án đư c niêm yết theo quy định của pháp luật.

- Trư ng h p bản án, quyết định đư c thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì ngư i đư c thi hành án dân sự, ngư i phải thi hành án dân sự có quyền th a thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự; th i hiệu thi hành án đư c thực hiện theo quy định tại điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ