vanban.org

Bản án 249/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Sóc Sơn, TP. Hà Nội Tuyên án 25/11/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Tịch thu sung ngân sách Nhà nước số tiền 390.000 đồng (Ba trăm, chín mươi nghìn đồng). (Theo Giấy nộp tiền vào tài khoản lập ngày 07/11/2023, nộp vào tài khoản số: 394901047882, Đơn vị nhận tiền: Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đông Anh tại Kho Bạc Nhà nước huyện Đông Anh). Tịch thu sung ngân sách … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Vũ H - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐÔNG ANH
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 249/2023/HS-ST
Ngày 25/11/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Duy Khoa.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đức Lưu

Ông Trần Thị Đông

- Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Kỳ Anh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đông Anh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Việt Hà - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 11 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 264/TLST-HS ngày 13 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 254/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 11 năm 2023, đối với bị cáo:

Nguyễn Vũ H, sinh năm 1983 tại Hà Nội; Nơi đăng ký thường trú và nơi ở hiện nay: Xóm x, thôn N, xã V, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Họ tên bố: Nguyễn Vũ N (Đã chết); Họ tên mẹ: Nguyễn Thị T; Gia đình có 03 chị em, bị cáo là con thứ hai; Vợ: Trường Thị T (Đã ly hôn); Con: Có 02 con, lớn sinh năm 2007 và nhỏ sinh năm 2015; Danh chỉ bản số 671 lập ngày 31/8/2023 của Công an huyện Đông Anh; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Bản án số 02/HSST ngày 07/01/2008, Tòa án huyện Mê Linh, Hà Nội xử phạt 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 22 tháng 01 ngày về Tội trộm cắp tài sản (Đã được xoá án tích); Bản án số 205/HSST ngày 17/09/2009, Tòa án huyện Từ Liêm, Hà Nội xử phạt 30 tháng tù về Tội tàng trữ, vận chuyển trái phép chất ma tuý. Tổng hợp hình phạt của bản án số 02/HSST ngày 07/01/2008 của Tòa án huyện Mê Linh buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của cả hai bản án là 41 tháng 01 ngày tù (Đã được xoá án tích); Bản án số 02/HSST ngày 27/7/2017, Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xử phạt 09 tháng tù về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Ra trại ngày 20/3/2021, đã chấp hành xong bản án (Bản án đã xoá án tích); Bản án số 181/HSST ngày 17/12/2019, Tòa án nhân dân huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội xử phạt 12 tháng tù về Tội trộm cắp tài sản. Ra trại ngày 20/3/2021, đã chấp hành xong bản án (Bản án đã xoá án tích); Ngày 23/9/2002, Công an huyện Mê Linh xử phạt phạt vi phạm hành chính 100.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy (Đã chấp hành xong). Bị bị bắt giữ, tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/8/2023 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1, Công an thành phố Hà Nội. Có mặt. * Bị hại:

- Ông Đỗ Văn C, sinh năm 1960; Nơi thường trú: Thôn Cổ Điển, xã Hải Bối, huyện Đông Anh, Hà Nội. Vắng mặt.

- Ông Nguyễn Văn H1, sinh năm 1982; Nơi thường trú: thôn Hoàng Kim, xã Hoàng Kim, huyện Mê Linh, Hà Nội. Vắng mặt. *Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Nguyễn Thị Thuý H2, sinh năm 1981; Nơi thường trú: thôn Ngọc Chi, xã Vĩnh Ngọc, huyện Đông Anh, Hà Nội. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 16h30’ ngày 26/8/2023, Nguyễn Vũ H điều khiển xe mô tô nhãn hiệu SH150i, sơn màu đen, đeo BKS: 29S2-117.44 đi đến hồ câu của ông Đỗ Văn C (Sinh năm 1960, trú tại: thôn Cổ Điển, xã Hải Bối, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội) thuộc thôn Cổ Điển, xã Hải Bối, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội, Huy thấy 01 chiếc máy nổ bơm nước nhãn hiệu D24 do Trung Quốc sản xuất bên ria hồ, không có người trông coi nên Huy nảy sinh ý định trộm cắp ống xả và ống hút của máy nổ. Huy đi đến chỗ để chiếc máy nổ, dùng mỏ lết tháo 01 ống xả bằng kim loại, 01 ống hút bằng kim loại để lấy trộm. Khi Huy đang mang ống xả và ống hút ra xe máy thì bị ông Đỗ Văn C, anh Đình Văn T (Sinh năm 1990), ông Nguyễn Hữu K (Sinh năm 1979), ông Nguyễn Hữu T (Sinh năm 1971), cùng trú tại: Khu dân cư Thăng Long, xã Hải Bối, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội phát hiện, bắt quả tang, đưa H về trụ sở Cơ quan Công an huyện Đông Anh trình báo. Cơ quan Công an đã lập biên bản Bắt giữ người phạm tội quả tang và thu giữ vật chứng. Cơ quan công an đã thu giữ của Huy: 01 ống xả bằng kim loại tối màu (Cổ ống xả có 03 lỗ vít, kích thước cổ ống xả (3,5x4,5)cm được hàn nối ống xả 16cm, chiều dài bầu xả 19cm được hàn cổ ống xả dài 11,5cm); 01 cổ hút bằng kim loại màu xanh đầu cổ hút có 03 lỗ vít đường kính (3,5x4,5)cm được nối 01 đoạn ống nhựa màu xanh đường kính 6,5cm; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda SH150i, sơn màu đen, đeo biển kiểm soát: 29S2 - 11744, số khung: RLHKF420XNY120294, số máy: KF42E0062280; 01 mỏ lết cỡ 08 inch; 01 áo chống nắng màu xanh đen; 01 mũ lưỡi trai màu đen; 01 đôi dép lê màu đen và số tiền 390.000 đồng.

Quá trình điều tra, Nguyễn Vũ H khai nhận: Huy còn thực hiện 02 lần trộm cắp vào các ngày 25/8/2023 và 26/8/2023. Cụ thể:

Vụ thứ 1: Khoảng 13h00’ ngày 25/8/2023, Nguyễn Vũ H điều khiển xe mô tô nhãn hiệu SH150i, sơn màu đen, đeo BKS: 29S2-117.44 đến hồ câu “Huy Hùng” của ông Đỗ Văn C dùng mỏ lết tháo trộm con sên bơm bằng kim loại của 01 chiếc máy nổ bơm nước nhãn hiệu D24 do Trung Quốc sản xuất mà ông Cẩn để bên rìa hồ câu, mang về nhà tại Ngọc Chi, Vĩnh Ngọc, Đông Anh, Hà Nội cất giữ.

Vụ thứ 2: Khoảng 12h00’, ngày 26/8/2023, Nguyễn Vũ H điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Sh150i, sơn màu đen, đeo BKS: 29S2-117.44 đi đến đường Lò Vôi thuộc thôn Cổ Điển, xã Hải Bối, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội phát hiện công trình xây dựng nhà anh Nguyễn Hữu H3 (Sinh năm 1983, trú tại: Khu dân cư Thăng Long, xã Hải Bối, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội) không có người trông coi. Huy dựng xe mô tô ở gần trước cửa công trình, đi bộ vào bên trong góc sân trộm cắp 01 máy đục; 01 máy cắt gạch; 02 chiếc máy bắn vít chạy pin, cùng chủng loại của anh Nguyễn Văn H1 (Sinh năm 1982, trú tại: thôn Hoàng Kim, xã Hoàng Kim, huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội, là chủ thầu công trình xây dựng nhà anh H3) mang ra ngoài. Sau đó, H chở 04 chiếc máy trên đến khu vực chợ Dâu thuộc xã Xuân Canh, huyện Đông Anh bán cho một người phụ nữ (H không rõ nhân thân, lai lịch) được 600.000 đồng. H đã tiêu xài cá nhân còn lại 390.000 đồng.

Cơ quan công an đã tạm giữ :

- Của Nguyễn Vũ H: 01 sên bơm màu xanh bằng kim loại đường kính guồng vào 13cm, guồng ra 14cm.

- Của chị Nguyễn Thị Thuý H2 (Sinh năm 1981, trú tại: Ngọc Chi, Vĩnh Ngọc, Đông Anh, Hà Nội - Chị gái của Nguyễn Vũ H): 01 bản photo Căn cước công dân số 001181047653 đề tên Nguyễn Thị Thúy H2 cấp ngày 01/9/2021; 01 bản photo Chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy số 29000137 cấp ngày 15/8/2022.

- Của anh Nguyễn Hữu H3: 03 đoạn video ghi lại sự việc trong USB nhãn hiệu Kingston, dung lượng 08GB do Công an xã Hải Bối, Đông Anh, Hà Nội cung cấp.

Ngày 15/9/2023 Hội đồng định giá tài sản huyện Đông Anh có kết luận số 185 kết luận:

- 01 ống xả bằng kim loại tối màu của máy nổ bơm nước loại D24 - Trung Quốc có trị giá 150.000 đồng;

- 01 ống hút bằng kim loại màu xanh của máy nổ bơm nước D24 - Trung Quốc có trị giá 50.000 đồng;

- 01 sên bơm bằng kim loại có trị giá 3.000.000 đồng;

- 01 máy đục bê tông màu đỏ - đen, nhãn hiệu TNT Pro có trị giá 1.700.000 đồng;

- 01 máy cắt cầm tay màu vàng nhãn hiệu Maktec có trị giá 1.000.000 đồng;

- 01 máy bắn vít màu đen nhãn hiệu TNT Pro có trị giá 1.200.000 đồng;

- 01 máy bắn vít màu đen nhãn hiệu TNT Pro (không có pin) có trị giá 800.000 đồng. Tổng giá trị của tài sản là 7.900.000 đồng. Tổng trị giá tài sản Nguyễn Vũ H trộm cắp của ông Đỗ Văn C ngày 25/8/2023 và ngày 26/8/2023 là 3.200.000 đồng và của anh Nguyễn Văn H1 ngày 26/8/2023 là 4.700.000 đồng. Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Vũ H khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên. Đối với người phụ nữ H bán 01 máy đục, 01 máy cắt, 02 máy bắn vít tại chợ Dâu thuộc xã Xuân Canh, huyện Đông Anh. H không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể nên Cơ quan điều tra không thu giữ được vật chứng và làm rõ người liên quan để đưa xử lý được. Đối với 01 ống xả, 01 cổ hút, 01 sên bơm: Kết quả điều tra xác định là tài sản hợp pháp của ông Đỗ Văn C. Ngày 15/9/2023, Cơ quan điều tra Quyết định xử lý vật chứng trả cho ông Đỗ Văn C tài sản trên.

- Đối với vật chứng thu giữ: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda SH150i, sơn màu đen, đeo biển kiểm soát: 29S2 - 11744, số khung: RLHKF420XNY120294, số máy: KF42E0062280: đăng ký mang tên Nguyễn Vũ H. Xe do chị Nguyễn Thị Thúy H3 (Sinh năm 1981, trú tại: Thôn Ngọc Chi, xã Vĩnh Ngọc, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội, là chị ruột bị can H) đưa tiền cho Huy đi mua để làm phương tiện đi lại chung cho gia đình. Ngày 25/8/2023 và ngày 26/8/2023, H sử dụng chiếc xe làm phương tiện để phạm tội chị Hà không biết, cần chuyển Tòa án nhân dân huyện Đông Anh giải quyết theo quy định. 01 mỏ lết Huy sử dụng làm công cụ để phạm tội; 01 mũ lưỡi trai, 01 áo chống nắng màu xanh đen, 01 đôi dép lê H sử dụng khi đi trộm cắp tài sản, chuyển Tòa án nhân dân huyện Đông Anh giải quyết theo thẩm quyền. Đối với 01 bản photo Căn cước công dân số 001181047653 cấp ngày 01/9/2021, 01 bản photo Chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy số 29000137 cấp ngày 15/8/2022; 01 USB màu đen, nhãn hiệu Kingston lưu 03 video tạm giữ của chị H2 và anh H3, chị H2 và anh H3 không nhận lại do đó chuyển theo hồ sơ phục vụ công tác xét xử. Về phần dân sự: Ông Đỗ Văn C và anh Nguyễn Văn H1 không đề nghị về mặt dân sự, đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho Nguyễn Vũ H.

Tại bản Cáo trạng số 243/CT-VKS ngày 03/11/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh đã truy tố Nguyễn Vũ H về Tội trộm cắp tài sản quy định tại điểm khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa:

Bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã truy tố. Bị cáo đều nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật và xin giảm nhẹ hình phạt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án xác định chiếc xe máy Honda SH150i, đeo biển kiểm soát 29S2 - 11744 do bị cáo sử dụng làm phương tiện đi trộm cắp tài sản là do chị bỏ tiền ra cho bị cáo đi mua và đăng ký tên của bị cáo làm chủ sở hữu, chị đề nghị Tòa án trả lại cho chị chiếc xem máy trên,

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh giữ quyền công tố tại phiên toà, sau khi phân tích nội dung, tính chất của vụ án, một lần nữa khẳng định việc truy tố bị cáo về tội danh và điều luật như Cáo trạng đã nêu là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 47, Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 136, 331 và 333 Bộ luật Tố tụng hình sự, xử phạt Nguyễn Vũ H từ 12 đến 16 tháng tù.

Về phần dân sự: Không phải giải quyết.

Về vật chứng:

Tịch thu sung ngân sách Nhà nước: Số tiền 390.000 đồng và 01 chiếc xe máy Honda SH150i, đeo biển kiểm soát 29S2 - 11744 đăng ký mang tên Nguyễn Vũ H là phương tiện phạm tội.

Tịch thu tiêu hủy: 01 mỏ lết cỡ 08 inch, 01 mũ lưỡi trai màu đen, 01 áo chống nắng màu xanh đen và 01 đôi dép lê màu đen.

Buộc bị cáo Nguyễn Vũ H phải truy nộp số tiền 210.000 đồng (Hai trăm mười nghìn đồng) do phạm tội mà có để sung ngân sách Nhà nước.

Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra, Công an huyện Đông Anh và Điều tra viên; của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. [2]. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với nội dung bản cáo trạng và các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử đủ căn cứ kết luận: Khoảng 13h00’ ngày 25/8/2023, tại thôn Cổ Điển, xã Hải Bối, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội, Nguyễn Vũ H đã lén lút trộm cắp của ông Đỗ Văn C: 01 con sên bơm bằng kim loại của máy nổ bơm nước nhãn hiệu D24 do Trung Quốc sản xuất, trị giá 3.000.000 đồng; đến 16h30’ ngày 25/8/2023 tại địa điểm trên, Nguyễn Vũ H tiếp tục trộm cắp của ông Đỗ Văn C: 01 ống xả bằng kim loại và 01 ống hút bằng kim loại của máy nổ bơm nước loại D24 do Trung Quốc sản xuất, trị giá 200.000 đồng. Khoảng 12h00’, ngày 26/8/2023, tại Khu dân cư Thăng Long, xã Hải Bối, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội, Nguyễn Vũ H đã lén lút trộm cắp của anh Nguyễn Văn H1: 01 chiếc máy đục, 01 chiếc máy cắt gạch và 02 chiếc máy bắn vít chạy pin, trị giá 4.700.000 đồng. Hành vi của bị cáo đã cấu thành Tội trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Nội dung điều luật quy định: Điều 173. Tội trộm cắp tài sản. “1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác có trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng ... thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm; …” Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh truy tố Nguyễn Vũ H về Tội trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 là có căn cứ. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự an toàn xã hội. Bị cáo nhận thức được hành vi phạm tội của mình là nguy hiểm cho xã hội nhưng do thiếu tu dưỡng bản thân, lười lao động, muốn có tiền tiêu xài cá nhân nên bị cáo vẫn cố ý phạm tội. Do vậy cần phải có mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo mới có tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo và đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung. Khi lượng hình, Hội đồng xét xử xem xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo. [3]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân bị cáo: Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo phạm tội hai lần nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, các bị hại trong vụ án xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu, đã nhiều lần bị xét xử về loại tội chiếm đoạt tài sản.

Căn cứ vào các quy định của Bộ luật Hình sự như đã nêu trên; căn cứ tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội; căn cứ nhân thân người phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng do không chịu tu dưỡng bản thân, lười lao động lại muốn có tiền tiêu xài cho bản thân nên đã liên tục vi phạm pháp luật. Vì vậy, cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian đủ để giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 và khoản 5 Điều 323 Bộ luật Hình sự quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng”. Xét các bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên Hội đồng xét xử miễn không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

. Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Các bị hại không có yêu cầu gì về phần dân sự nên Tòa án không phải xem xét, giảm quyết.

. Về vật chứng vụ án:

Đối với số tiền 600.000 đồng do bị cáo phạm tội mà có, bị cáo đã tiêu xài cá nhân hết 210.000 đồng và còn lại 390.000 đồng đã bị thu giữ nên cần tịch thu số tiền 390.000 và buộc bị cáo phải truy nộp số tiền 210.000 đồng do phạm tội mà có để sung ngân sách Nhà nước

Đối với 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda SH150i, đeo biển kiểm soát 29S2 - 11744, số khung RLHKF420XNY120294, số máy KF42E0062280, đăng ký mang tên Nguyễn Vũ H thu giữ của bị cáo được xác định là phương tiện bị cáo dùng vào việc phạm tội nhiều lần. Chị Nguyễn Thị Thúy H3 xác định chị là người bỏ tiền ra cho bị cáo mua và đứng tên chủ sở hữu chiếc xe trên, giữa bị cáo và chị Hà không có tài liệu gì để chứng mình chị Hà là chủ sở hữu chiếc xe máy trên nên yêu cầu của chị Nguyễn Thị Thúy H3 về việc xin nhận lại chiếc xe mô tô Honda SH150i, đeo biển kiểm soát 29S2 - 11744, đăng ký mang tên Nguyễn Vũ H không được chấp nhận. Vì vậy, cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước chiếc mô tô nhãn hiệu Honda SH150i, đeo biển kiểm soát 29S2 - 11744 theo quy định tại Điều 47 Bộ luật Hình sự. Đối với 01 mỏ lết, 01 mũ lưỡi trai, 01 áo chống nắng, 01 đôi dép lê là dụng cụ bị cáo dùng vào việc phạm tội và vật dụng không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy. [8]. Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. [9]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án đều có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật. [10]. Quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh tại phiên tòa: Phù hợp với quy định của pháp luật và kết quả nghị án nên được Hội đồng xét xử chấp nhận. Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 47 và Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015;

- Điều 136, 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;

- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. 1. Về hình phạt: Xử phạt: Nguyễn Vũ H 16 (Mười sáu) tháng tù về “Tội trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt, tạm giữ, tạm giam là ngày 27/8/2023. 2. Về vật chứng:

- Tịch thu sung ngân sách Nhà nước số tiền 390.000 đồng (Ba trăm, chín mươi nghìn đồng). (Theo Giấy nộp tiền vào tài khoản lập ngày 07/11/2023, nộp vào tài khoản số: 394901047882, Đơn vị nhận tiền: Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đông Anh tại Kho Bạc Nhà nước huyện Đông Anh).

- Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda SH150i, đeo biển kiểm soát 29S2 - 11744, số khung RLHKF420XNY120294, số máy KF42E0062280, không gương, đăng ký mang tên Nguyễn Vũ H.

- Tịch thu tiêu hủy: 01 mỏ lết cỡ 08 inch, 01 mũ lưỡi trai màu đen, 01 áo chống nắng màu xanh đen và 01 đôi dép lê màu đen. (Vật chứng đang được lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đông Anh, tình trạng như Biên bản bàn giao vật chứng ngày 07/11/2023 giữa Công an huyện Đông Anh và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đông Anh).

- Buộc bị cáo Nguyễn Vũ H phải truy nộp số tiền 210.000 đồng (Hai trăm mười nghìn đồng) do phạm tội mà có để sung ngân sách Nhà nước.

3. Về án phí sơ thẩm:

Bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để sung ngân sách Nhà nước.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền thì hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất bằng 50% mức lãi suất giới hạn quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chậm thi hành án.

4. Về quyền kháng cáo:

Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án chỉ có quyền kháng cáo về phần có liên quan./.

Cỡ chữ