- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vũ Như K - Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Vũ Như K phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BẮC TỪ LIÊM THÀNH PHỐ HÀ NỘI ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 249/2022/HS-ST Ngày: 23-11-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BẮC TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lưu Ngọc Cảnh
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Phan Thị Thúy Hà
Ông Lê Xuân Giang
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Ngọc Thúy - Thư ký Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Đoàn Thị Vĩnh Hà - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 11 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 252/2022/TLST-HS ngày 03 tháng 11 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 254/2022/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 11 năm 2022 đối với bị cáo:
VŨ NHƯ K, sinh ngày 10/01/19XX tại V P; ĐKHKTT và nơi cư trú: Tổ dân phố H B, thị trấn T L, huyện B X, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông V Văn L và bà Dương Thị D; vợ, con: Chưa; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 12/8/2022 đến ngày 17/8/2022, hiện tại ngoại, có mặt.
* Bị hại:
Anh Lê Văn V, sinh năm 19XX, nơi cư trú: tổ X, phường Đ T, quận B T L, TP Hà Nội, vắng mặt.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
Anh Trần Văn C, sinh năm 19XX; nơi cư trú: số X C N, phường C N 2, quận B T L, TP Hà Nội, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 17 giờ ngày 09/8/2022, anh Lê Văn V điều khiển xe ô tô nhãn hiệu Bejing X7 màu trắng BKS 30H-129.XX đ tại đối diện số nhà 49 ngách 1/66 phố Văn Hội, phường Đức Thắng, quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội rồi đi về nhà lấy đồ nhưng quên khóa cửa xe ô tô. Lúc này, V Như K đang đi bộ lang thang qua ngách 1/66 phố Văn Hội, phường Đức Thắng thì nhìn thấy xe ô tô của anh V đ bên đường. K quan sát xung quanh xe và trong xe không có người, trên ghế phụ phía trước xe ô tô có 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu phone 11 pro màu xanh đen của anh V nên nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. K tiến lại cạnh cửa ghế phụ phía trước, dùng tay phải mở cửa xe bên ghế phụ rồi dùng tay trái lấy điện thoại phone 11 pro màu xanh đen của anh V trên ghế phụ bỏ vào túi quần bên trái rồi đóng cửa xe lại sau đó tiếp tục đi lang thang về phía phường Cổ Nhuế. Trên đường đi, K tháo sim điện thoại vứt ở ven đường (không nhớ chính xác địa điểm) và thử mở khóa điện thoại nhiều lần nhưng không mở được nên điện thoại bị vô hiệu hóa. Đến khoảng 22 giờ ngày 09/8/2022, K đến cửa hàng điện thoại của anh Trần Văn C tại số X đường C N, phường C N 2, quận B T L bán chiếc điện thoại trên với giá 2.000.000 đồng. Số tiền này K đã tiêu xài hết.
Tại cơ quan công an, V Như K khai nhận: do không có tiền tiêu xài nên K đã trộm cắp điện thoại của anh Lê Văn V rồi đem bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Khi K bán điện thoại cho anh Trần Văn C, K nói nguồn gốc điện thoại do K nhặt được nên anh C không biết điện thoại do K trộm cắp mà có.
Ngày 26/8/2022, cơ quan điều tra Công an quận Bắc Từ Liêm ra Quyết định xử lý vật chứng số 100 trao trả 01 điện thoại di động nhãn hiệu phone 11 pro màu xanh đen 64Gb cho anh Lê Văn V. Anh V đã nhận lại tài sản. Đối với sim điện thoại bị mất, anh V đã làm lại sim, không yêu cầu bồi thường dân sự.
Quá trình điều tra, anh Trần Văn C khai: khi K đến cửa hàng bán điện thoại, K nói điện thoại do K nhặt được, anh C không biết điện thoại là tài sản do K phạm tội mà có nên cơ quan điều tra không có căn cứ xử lý. Anh C tự nguyện giao nộp điện thoại là tang vật vụ án cho cơ quan điều tra và không yêu cầu K bồi thường số tiền 2.000.000 đồng.
Đối với vật chứng là USB chứa dữ liệu mà anh Lê Văn V giao nộp, cơ quan điều tra chuyển theo vụ án để xử lý theo quy định của pháp luật.
Bản cáo trạng số 252/CT-VKSBTL ngày 31/10/2022 của Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội truy tố bị cáo V Như K về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa:
Bị cáo V Như K hiện đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng với nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm, TP Hà Nội đã quy kết và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét khoan hồng cho bị cáo, cho bị cáo được cải tạo thành công dân tốt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm, TP Hà Nội sau khi tóm tắt nội dung vụ án, đánh giá các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa, lời khai của người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, những người làm chứng, nhân thân của bị cáo cùng các tình tiết giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo đã giữ nguyên quan điểm truy tố của Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm, TP Hà Nội đối với bị cáo V Như K về tội “Trộm cắp tài sản”. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm, TP Hà Nội đã đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo V Như K từ 08 đến 12 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 16 đến 24 tháng.
- Trách nhiệm dân sự: không; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; truy nộp số tiền 2.000.000 đồng hưởng lời bất chính.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Bắc Từ Liêm, TP Hà Nội, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm, TP Hà Nội, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai nhận tội của bị cáo V Như K tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng, tang vật chứng đã thu giữ, bản kết luận định giá tài sản cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do vậy có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 17 giờ ngày 09 tháng 8 năm 2022, tại đối diện số nhà 49 ngách 1/66 đường Văn Hội, phường Đức Thắng, quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội, V Như K có hành vi lén lút trộm cắp 01 điện thoại di động nhãn hiệu phone 11 pro màu xanh đen trị giá 10.000.000 đồng của anh Lê Văn V đang để trong ô tô nhằm mục đích bán lấy tiền ăn tiêu. Chính vì vậy Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm, TP Hà Nội đã truy tố bị cáo V Như K về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là hoàn toàn có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu riêng về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an xã hội, hoang mang lo lắng bất bình trong nhân dân. Do vậy việc đưa bị cáo ra xét xử trước pháp luật là cần thiết mới đủ tác dụng cải tạo, giáo dục đối với bị cáo và đáp ứng được yêu cầu đấu tranh, phòng ngừa tội phạm nói chung.
Về nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
- Tăng nặng: Không.
- Giảm nhẹ: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo đều thành khẩn khai báo nhận tội và tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo có nhân thân tốt, chưa tiền án, tiền sự, lần đầu phạm tội và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự xét thấy bị cáo V Như K nhân thân chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu; bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, Bị cáo có nơi cư trú ổn định, rõ ràng nên xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho bị cáo được hưởng biện pháp chấp hành án có điều kiện, được cải tạo tại địa phương dưới sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương c ng đủ tác dụng cải tạo đối với bị cáo mà c ng không gây nguy hại cho xã hội.
Bị cáo không có công ăn việc làm ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự:
- Quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã thu hồi tài sản bị chiếm đoạt trả lại cho bị hại anh Lê Văn V, đến nay anh V không có yêu cầu gì về phần trách nhiệm dân sự nên Tòa không xem xét.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án anh Trần Văn C bị thiệt hại 2.000.000 đồng do mua phải điện thoại là tang vật vụ án hiện đã bị Cơ quan điều tra thu hồi trả bị hại, đến nay anh C không yêu cầu buộc bị cáo V Như K phải bồi thường nên Tòa không xem xét.
Về biện pháp tư pháp: Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội được hưởng lời 2.000.000 đồng nên cần buộc bị cáo phải nộp lại để sung quỹ Nhà nước.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo qui định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Vũ Như K phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Vũ Như K 09 (Chín) tháng tù, cho hưởng án treo; thời gian thử thách là 18 (Mười tám) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 23/11/2022.
Giao bị cáo V Như K cho UBND thị trấn T L, huyện B X, tỉnh Vĩnh Phúc giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Về biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự,
Buộc bị cáo V Như K phải nộp lại 2.000.000 đồng để sung quỹ Nhà nước.
3. Về án phí và quyền kháng cáo: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng Hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
- Bị cáo V Như K phải nộp 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm.
- Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.
| Nơi nhận: - TAND thành phố Hà Nội; - VKSND thành phố Hà Nội; - Sở Tư pháp thành phố Hà Nội; - VKS ND Q. Bắc Từ Liêm; - Công an Q. Bắc Từ Liêm; - Chi cục THADS Q. Bắc Từ Liêm; - Bị cáo; Bị hại; - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; - Lưu HS - VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lưu Ngọc Cảnh |