- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lương Hồng Đ chống người thi hành công vụ - phạm tội chống người thi hành công vụ (điều 330 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2…"
- Tòa quyết gì? [1] Căn cứ: Điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự;
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 330 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 249/2022/HS-PT Ngày: 01 - 11 - 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Triết
Các Thẩm phán:
1. Ông Nguyễn Huờn
2. Bà Nguyễn Thị Nhung
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Trang - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Bích Thuỷ - Kiểm sát viên.
Ngày 01 tháng 11 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Đắk Lắk, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 256/2022/TLPT-HS ngày 04/10/2022 đối với bị cáo Lương Hồng Đ. Do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 16/2022/HSST ngày 21/7/2022 của Tòa án nhân dân huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk.
Bị cáo có kháng cáo:
Họ và tên: Lương Hồng Đ; sinh năm 1988; tại tỉnh Đắk Lắk; nơi cư trú: Thôn T, xã Đ, huyện P, tỉnh Đắk Lắk; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: làm nông; trình độ học vấn: 6/12; con ông Lương Văn H, sinh năm 1961 và con bà Đinh Thị H, sinh năm 1960; bị cáo có vợ là Bùi Nữ Thị Diệu L, sinh năm 1989 và có 01 con sinh năm 2018.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú - Có mặt tại phiên toà.
Ngoài ra còn có 04 bị cáo không có kháng cáo và không bị kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19 giờ ngày 11/12/2019, Tống Tôn K thuê Lương Hồng Đ cắt hạ cây muồng tại khu vực lô cà phê của K nhận khoán với Công ty cổ phần cà phê L (gọi tắt là Công ty L) rồi chở gỗ về sân bóng thôn T, xã Đ cho K với giá 1.000.000 đồng/ngày, Đ đồng ý rồi thuê Lương Văn Đ1 (là anh trai) và Y D Byă cùng làm. Điệp phân công Y D Byă cưa hạ cây, Đ1 dọn cắt cành để Đ chở về. Khoảng 07 giờ 30 phút ngày 12/12/2019, Đ, Đ1, Y D Byă đến lô cà phê thuộc thửa số 08, tờ bản đồ số 07, diện tích 1,538 ha tại thôn T, xã Đ thì K nói Đ cưa hạ toàn bộ 29 cây muồng đen ở khu vực vành đai rừng chắn gió tiếp giáp bờ mương, nằm bên ngoài lô cà phê của K.
Khoảng 09 giờ cùng ngày, Công ty L phát hiện Đ1, Đ và Y D Byă đã cưa hạ 06 cây muồng đen nên ông Phạm Xuân T (là tổng giám đốc) đã trình báo sự việc trên đến Công an huyện Krông Pắc. Sau khi tiếp nhận, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Krông Pắc đã cử tổ công tác đến khám nghiệm hiện trường để giải quyết vụ việc theo quy định pháp luật gồm các ông Vy Thanh H, Điều tra viên chủ trì khám nghiệm hiện trường, Nguyễn Doãn C, Cán bộ điều tra, Ngô Hoàng P, Cán bộ kỹ thuật hình sự, Hoàng Vũ C, Cán bộ kỹ thuật hình sự và Nguyễn Đức L, lái xe, thuộc Công an huyện Krông Pắc. Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Pắc phân công ông Phan Hữu L, Kiểm sát viên kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường. Hạt kiểm lâm huyện P cử ông Võ Tá B, tham gia cùng tổ khám nghiệm hiện trường.
Khoảng 10 giờ 30 phút cùng ngày, khi tổ công tác đến hiện trường đã giải thích, vận động, yêu cầu mọi người dừng hoạt động cưa hạ cây muồng, không có hành động cản trở để tổ công tác thực hiện việc khám nghiệm hiện trường theo quy định pháp luật. Tuy nhiên, Tống Tôn K, Đ và Y D không chấp hành. K nói muồng của tôi, tôi muốn cắt thế nào tôi cắt chứ, không có đo điếc gì hết, không phải đo. Tôi nói là muồng của tôi không cho các anh đo nhá. Tôi nói thẳng muồng của tôi, tôi không cho các anh đo. Không, các anh không làm nhiệm vụ chi đây. Các anh có phải là Công an hay không tôi không cần biết... mời các anh về cho cái, không có nhiệm vụ chi ở đây hết và có hành vi dùng tay đẩy thước dây của lực lượng Công an nhằm không cho đo các cây gỗ muồng đã bị cắt hạ và khám nghiệm hiện trường. Đ1 vẫn tiếp tục cưa hạ 03 cây muồng và Y D cưa hạ 02 cây muồng. Khoảng 12 giờ cùng ngày, Võ Giang N, sinh năm 1980, cư trú tại thôn T, xã Đ, huyện P đến hiện trường và cưa hạ 02 cây muồng.
Khoảng 15 giờ cùng ngày, Lương Hồng Đ điều khiển xe máy cày đến cùng Đ1, Y D kéo 04 khúc gỗ muồng lên thùng xe. Lúc này, ông Vy Thanh H yêu cầu Đ xuống xe dừng việc chở gỗ khỏi hiện trường, nhưng Đ không chấp hành, vẫn điều khiển xe chở 04 khúc gỗ muồng đi. Khi xe đi được khoảng 50m thì ông H chặn xe lại và kéo Đ xuống xe. Thấy vậy, Đ1 liền lên xe, tiếp tục chở gỗ đi thì ông Vũ Văn H, Lê Đình T (là chiến sỹ thuộc Công an huyện Krông Pắc được phân công bảo vệ hiện trường) đã leo lên thùng xe máy cày và yêu cầu dừng xe nhưng Đ1 điều khiển xe chở gỗ đến sân bóng của thôn T, xã Đ cho K (cách hiện trường khoảng 01km). Trong quá trình Đ chở gỗ đến sân bóng, Nguyễn Tấn T, sinh năm 1979, cư trú tại thôn C, xã Đ, huyện P nói Đ1 cứ tiếp tục chở gỗ đi và Tây chạy bộ theo xe. Để ngăn chặn hành vi chống đối, tự ý di chuyển gỗ muồng ra khỏi hiện trường của các đối tượng trên, Công an tỉnh Đắk Lắk đã điều động 300 cán bộ, chiến sỹ đến để đảm bảo an ninh trật tự và phối hợp với Công an huyện Krông Pắc khám nghiệm hiện trường, thu giữ vật chứng theo quy định. Được sự hỗ trợ của lực lượng Công an tỉnh, tổ công tác mới tiến hành khám nghiệm hiện trường. Khoảng 17 giờ cùng ngày, khi xe ô tô (xe cẩu) biển số 47D - 1719 của Chi cục Kiểm lâm tỉnh L được điều động đến hiện trường làm nhiệm vụ. Biết xe ô tô đến hiện trường vận chuyển gỗ muồng thì Nguyễn Huy H, sinh năm 1965, cư trú tại thôn B, xã Đ, huyện P có hành vi đứng trước xe ô tô rồi vẫy tay nói mọi người ngồi xuống giữa đường để không cho xe ô tô đi qua. Nguyễn Tấn T cũng ngồi xuống giữa đường để chặn xe. Nguyễn Văn H, sinh năm 1982, cư trú tại thôn T, xã Đ, cầm một khúc gỗ muồng ném ra đường phía trước đầu xe ô tô. Võ Đại T, sinh năm 1953, cư trú tại thôn T, xã Đ, dựng xe mô tô ngang đường phía trước đầu xe ô tô và có lời nói hô hào, lôi kéo mọi người ra ngăn cản không cho xe ô tô vào hiện trường. Lực lượng Cảnh sát cơ động và các lực lượng chức năng thực hiện các biện pháp nghiệp vụ để giải tán đám đông thì các đối tượng mới dừng việc cản trở, đến 17 giờ 40 phút cùng ngày việc khám nghiệm hiện trường tại nơi các bị can cưa hạ cây muồng mới kết thúc, đến 19 giờ cùng ngày, tổ công tác tiếp tục khám nghiệm hiện trường và thu giữ 04 khúc gỗ muồng các bị can đã chở đến sân bóng thôn T, xã Đ trước đó, đến 20 giờ 15 phút cùng ngày thì công tác khám nghiệm hiện trường kết thúc. Tổng số cây muồng bị cưa hạ là 13 cây (được cưa thành 23 khúc, trong đó có 04 khúc thu giữ tại sân bóng thôn Toàn Thắng) đã được tạm giữ theo quy định.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 16/2022/HS-ST ngày 21/7/2022 của Tòa án nhân dân huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk đã quyết định:
Tuyên bố các bị cáo Tống Tôn K, Lương Hồng Đ, Lương Văn Đ1, Y D Byă và Nguyễn Tấn T phạm tội “Chống người thi hành công vụ”.
Áp dụng khoản 1 Điều 330, điểm i,s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Lương Hồng Đ 01(một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên phạt 04 bị cáo khác, về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 29/7/2022 bị cáo Lương Hồng Đ có đơn kháng cáo xin được hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo vẫn giữ nguyên đơn kháng cáo và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng và bản án hình sự sơ thẩm cũng như lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm.
Quá trình tranh luận tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đã phân tích, đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo và cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Lương Hồng Đ về tội: “Chống người thi hành công vụ” theo khoản 1 Điều 330 Bộ luật hình sự là đảm bảo đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Xét mức mức hình phạt 01 năm tù mà bản án sơ thẩm xử phạt đối với bị cáo Lương Hồng Đ là thoả đáng, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội cũng như nhân thân của bị cáo. Tại cấp phúc thẩm, các bị cáo không cung cấp thêm tình tiết giảm nhẹ nào mới. Do vậy, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 16/2022/HS-ST ngày 21/7/2022 của Tòa án nhân dân huyện Krông Pắc.
Bị cáo không tranh luận, bào chữa gì và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Lương Hồng Đ là người được bị cáo Tống Tôn K thuê cưa cây muồng. Khi lực lượng Công an đến làm việc, bị cáo không những không chấp hành mà còn điều khiển cưa hạ và điều khiển xe máy cày đến cùng với bị cáo Lương Văn Đ1, Y D Byă đưa gỗ lên thùng xe, mặc dù đã đưuọc yêu cầu dừng lại nhưng bị cáo không chấp hành mà vẫn điều khiển xe chạy đi khỏi hiện trường, không cho lực lượng công an đo đạc, khám nghiệm. Mặt khác, việc tranh chấp giữa các hộ dân nhận khoán với Công ty cổ phần cà phê L dẫn đến việc tụ tập đông người ảnh hưởng an ninh trật tự tại địa phương. Hành vi của bị cáo cần được xử lý nghiêm khắc để răn đe và phòng ngừa chung.
Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Lương Hồng Đ về tội “Chống người thi hành công vụ” theo khoản 1 Điều 330 Bộ luật hình sự là có căn cứ pháp lý, đúng người, đúng tội.
Xét mức án 01 năm tù mà án sơ thẩm đã xử phạt bị cáo là phù hợp với tình hình trật tự tại địa phương. Xét kháng cáo xin được hưởng án treo là không có cơ sở chấp nhận, bởi lẽ cấp sơ thẩm đã xem xét, áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, tại cấp phúc thẩm bị cáo không cung cấp được tình tiết giảm nhẹ nào mới nên không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của bị cáo, cần giữ nguyên bản án sơ thẩm về hình phạt là phù hợp.
Về án phí: Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Căn cứ: Điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự;
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lương Hồng Đ – Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 16/2022/HS-ST ngày 21/7/2022 của Tòa án nhân dân huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk.
[2] Áp dụng khoản 1 Điều 330; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt: Bị cáo Lương Hồng Đ 01 (Một) năm tù về tội “Chống người thi hành công vụ”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
[3] Về án phí: Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Bị cáo Lương Hồng Đ phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.
[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm, không có kháng cáo, kháng nghị, đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Vụ GĐKT 1 – TANDTC; - TAND Cấp cao tại Đà Nẵng; - VKSND tỉnh Đắk Lắk (02 bản); - Phòng HSNV Công an tỉnh Đắk Lắk; - Văn phòng CQCSĐT Công an tỉnh Đắk Lắk; - Sở Tư pháp tỉnh Đắk Lắk; - TAND huyện Krông Pắc; - VKSND huyện Krông Pắc; - Công an huyện Krông Pắc; - Chi cục THADS huyện P; - Những người TGTT; - Bị cáo; - Đăng tải trên cổng TTĐT-TANDTC; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Đình Triết |