- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyen Van Th- cuop tai san - phạm tội cướp tài sản (điều 168 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Th phạm tội “Cướp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| ¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯ Bản án số: 249/2021/HS-ST Ngày: 11/6/2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, TP.HCM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thu Thảo
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Huỳnh Tiến Dũng;
2. Bà Nguyễn Thị Lượng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ánh Linh – Thư ký
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Văn Tuyến - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 6 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 203/2021/TLST/HSST ngày 27 tháng 5 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 290/2021/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 6 năm 2021, đối với các bị cáo:
Nguyễn Văn Th; sinh năm: 1990; tại: Bình Định; hộ khẩu thường trú: xã Cát Chánh, huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định; Nơi cư trú: nhà không số, Quốc lộ 13 cũ, khu phố 3, phường Hiệp Bình Phước, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: thợ cơ khí; trình độ văn hoá (học vấn): 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn D; và bà: Huỳnh Thị H; có vợ 02 con, lớn nhất sinh 2018, nhỏ nhất sinh năm 2020; tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/11/2020. (có mặt).
Bị hại: anh Nguyễn Pi P, sinh năm 1974
(vắng mặt)
Địa chỉ: khu dân cư Vĩnh Phú 1, đường Vĩnh Phú 10, phường Vĩnh Phú, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1/ Anh Nguyễn Đức H, sinh năm 1997 (vắng mặt)
Địa chỉ: khu phố 3, phường Hiệp Bình Phước, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người làm chứng: anh Hà Ngọc Thiện, sinh năm 2000 và anh Nguyễn Huy Hoàng, năm năm 2000. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
[1] Khoảng 16 giờ ngày 10/11/2020, anh Nguyễn Pi P điều khiển xe mô tô hiệu Piagio Liberty màu trắng biển số 66V1-171.71 đến quán cà phê “AROVI”, địa chỉ số 22, đường số 6, KDC Hiệp Bình, Khu phố 6, phường Hiệp Bình Phước, quận Thủ Đức (nay là thành phố Thủ Đức), Thành phố Hồ Chí Minh gặp Nguyễn Văn Th trao đổi về việc anh P còn nợ 21.000.000 đồng tiền công thuê Th làm mái ngói công trình xây dựng nhà ở. Khi gặp nhau, anh P đề nghị Th cho nợ lại, từ từ trả sau nhưng Th không đồng ý, vì anh P đã nhiều lần khất nợ. Th gọi điện cho cháu ruột là Hà Ngọc Thiện nói Thiện đến quán cà phê AROVI có chuyện nhưng không nói rõ là làm gì. Thiện rủ Nguyễn Huy Hoàng là bạn học chung trường Cao đẳng VINATEX đi cùng, Thiện điều khiển xe mô tô của Thiện chở Hoàng đến quán cà phê “AROVI” gặp Th. Lúc này, Th và anh P vẫn đang cãi nhau về số tiền nợ, Th đòi lấy xe mô tô biển số 66V1-171.71 của anh P để xiết nợ nhưng anh P không đồng ý. Th dùng tay phải túm cổ áo anh P và dùng tay phải lục túi quần anh P tìm chìa khóa xe nhưng anh P cản lại, Th liên dùng tay trái đấm trúng vào má trái anh P 02 cái, hai người tiếp tục giằng co rồi anh P lấy chìa khóa xe đưa cho Th, Th thấy trị giá xe không đủ trả tiền nợ và đòi lấy thêm điện thoại di động của anh P, anh P không đồng ý nên Th dùng tay phải đánh vào mặt anh P. Lúc này, Thiện và Hoàng can ngăn Th nhưng Th vẫn tiếp tục giằng co với anh P. Do kiệt sức nên anh P đã đưa điện thoại di động Samsung Galaxy A71 màu bạc bên trong có gắn sim số 0796907500 và 0907048479 cho Th, Th cất điện thoại di động của anh P vào túi quần và điều khiển xe mô tô của anh P về để tại nhà trọ của Th tại địa chỉ: Nhà không số, Quốc lộ 13 cũ, phường Hiệp Bình Phước, quận Thủ Đức (nay là thành phố Thủ Đức) còn Hoàng giúp Th điều khiển xe mô tô của Th về phòng trọ của Th, Thiện cũng điều khiển xe mô tô của Thiện rời khỏi hiện trường.
Đến khoảng 17 giờ 20 phút ngày 11/11/2020, Th tháo sim điện thoại ra cất và mang điện thoại di động Samsung Galaxy A71 màu bạc của anh P đến tiệm cầm đồ cầm cho anh Nguyễn Đức Hậu là nhân viên tiệm cầm đồ “A Đạt” địa chỉ số 750 Quốc lộ 13, phường Hiệp Bình Phước, quận Thủ Đức (nay là thành phố Thủ Đức), Thành phố Hồ Chí Minh với giá 2.000.000 đồng. Th nghĩ điện thoại di động và xe mô tô đã chiếm đoạt của anh P chưa đủ để trừ nợ, Th đến nhà anh P yêu cầu trả đủ tiền nợ, dọa anh P nếu không trả tiền sẽ đốt xưởng của anh P rồi bỏ đi. Sau đó, anh P đến Công an phường Hiệp Bình Phước, thành phố Thủ Đức trình báo sự việc.
Anh Nguyễn Pi P bị thương tích: 01 vết bầm ở cổ kích thước 1x3cm và vùng má trái bị sưng. Anh P có đơn từ chối giám định thương tích.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Thủ Đức, Nguyễn Văn Th đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội và giao nộp lại xe mô tô biển số 66V1-171.71 đã chiếm đoạt của anh P và chỉ nơi cầm điện thoại di động của anh P.
Bản kết luận định giá tài sản số 2252 ngày 13/11/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự đã kết luận: xe mô tô hiệu Piagio Liberty màu trắng biển số 66V1-171.71 có giá là 10.000.000 đồng và điện thoại di động Samsung Galaxy A71 màu bạc có giá là 4.500.000 đồng. Tổng trị giá tài sản là 14.500.000 đồng.
* Vật chứng vụ án:
- 01 xe mô tô hiệu Piagio Liberty màu trắng biển số 66V1-171.71 kèm chìa khóa xe do Th giao nộp.
- 02 sim điện thoại số 0796907500 và 0907048479 do Th giao nộp.
- 01 điện thoại di động Samsung Galaxy A71 màu bạc cùng 01 giấy biên nhận cầm đồ do đại diện tiệm cầm đồ “A Đạt” giao nộp.
- 01 USB chứa 02 đoạn video ghi nhận Nguyễn Văn Th mang điện thoại di động đến tiệm cầm đồ “A Đạt” cầm.
* Về trách nhiệm dân sự: Anh Nguyễn Pi P đã nhận lại tài sản của mình, anh P không có yêu cầu gì thêm và có đơn bãi nại không yêu cầu xử lý hình sự đối với Th.
[2] Bản Cáo trạng số 166/CT-VKS ngày 25/5/2021 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức truy tố bị cáo Nguyễn Văn Th về tội “Cướp tài sản” theo khoản 1 Điều 168 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo phạm tội “Cướp tài sản” theo khoản 1 Điều 168 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017 cùng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tài sản chiếm đoạt có giá trị không lớn, đã thu hồi và trả lại cho bị hại, bị hại có đơn bãi nại đề nghị không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, vì vậy để xử phạt bị cáo từ 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng đến 04 (bốn) năm tù.
Về phần dân sự bị hại đã nhận lại tài sản và có đơn bãi nại cho bị cáo, ngoài ra không có yêu cầu gì thêm.
Bị cáo không tranh luận hoặc bào chữa gì.
Bị cáo rất hối hận về hành vi của mình, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để bị cáo có cơ hội sửa chữa sai lầm và sớm về chăm lo cho gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thủ Đức, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng, vật chứng và các tài liệu chứng cứ đã thu thập được, có căn cứ xác định: vào khoảng 16 giờ ngày 10/11/2020, Nguyễn Văn Th đã có hành vi dùng vũ lực tấn công bằng tay không để buộc anh Nguyễn Pi P đưa xe mô tô hiệu Piagio Liberty màu trắng biển số 66V1-171.71 trị giá 10.000.000 đồng và 01 điện thoại di động Samsung Galaxy A71 màu bạc trị giá 4.500.000 đồng tại quán cà phê “AROVI”, địa chỉ số 22, đường số 6, KDC Hiệp Bình, Khu phố 6, phường Hiệp Bình Phước, quận Thủ Đức (nay là thành phố Thủ Đức), Thành phố Hồ Chí Minh, tổng trị giá tài sản chiếm đoạt là 14.500.000 đồng. Như vậy, có đủ cơ sở pháp lý kết luận bị cáo đã phạm tội “Cướp tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định, trừng trị tại khoản 1 Điều 168 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, vì động cơ vụ lợi, bị cáo không chỉ cố ý xâm phạm đến quyền sở hữu của người khác được pháp luật bảo vệ, mà còn xâm phạm đến sức khỏe của người khác ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự xã hội trên địa bàn dân cư. Bị cáo cho rằng bị cáo phạm tội do lỗi của bị hại đang thiếu nợ bị cáo mà không trả trong khi gia đình bị cáo đang gặp nhiều khó khăn nên bị cáo đã nóng giận, đánh bị hại để lấy tài sản cấn trừ nợ, Hội đồng xét xử nhận định việc nợ nần giữa bị cáo và bị hại hai bên có thể hòa giải để giải quyết, trường hợp không thể thỏa thuận được có thể nộp đơn để yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp, nhưng bị cáo chọn cách dùng vũ lực để lấy tài sản của bị hại để cấn trừ nợ là không thể chấp nhận được, cách hành xử này có ảnh hưởng xấu đến xã hội. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo với hình phạt nghiêm, phù hợp với tính chất, mức độ phạm tội, nhân thân của bị cáo mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
Tuy nhiên khi quyết định hình phạt cần xem xét cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, lần đầu phạm tội, bị cáo phạm tội mang tính chất bộc phát nhất thời, tài sản chiếm đoạt đã thu hồi trả lại cho bị hại, bị cáo phạm tội gây thiệt hại không lớn, bị hại có đơn bãi nại và đề nghị không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Về vật chứng vụ án và về trách nhiệm dân sự: bị hại đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt và không có yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
Vật chứng vụ án: 01 xe mô tô hiệu Piagio Liberty màu trắng biển số 66V1-171.71 kèm chìa khóa xe do Th giao nộp; 01 điện thoại di động Samsung Galaxy A71 màu bạc và 02 sim điện thoại số 0796907500 và 0907048479. Căn cứ kết quả xác minh xe trên do anh Phạm Thiên Sơn đứng tên chủ sở hữu. Đến năm 2015, anh Sơn bán lại cho anh Nguyễn Văn Mười nhưng không làm giấy mua bán xe. Đến năm 2017, anh Mười bán xe cho anh Nguyễn Pi P, có viết giấy mua bán xe, nhưng anh P đã làm mất giấy mua bán xe. Hội đồng xét xử nhận thấy 01 xe mô tô hiệu Piagio Liberty màu trắng biển số 66V1-171.71 và 01 điện thoại di động Samsung Galaxy A71 màu bạc và 02 sim điện thoại số 0796907500 và 0907048479 là tài sản của anh Nguyễn Pi P bị bị cáo chiếm đoạt do đó ngày 21/01/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thủ Đức đã trả lại tài sản cho bị hại là đúng quy định, Hội đồng xét xử ghi nhận.
Anh Nguyễn Đức H chủ cửa hàng cầm đồ A Đạt không có yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 2.000.000 đồng, do bị cáo đem điện thoại chiếm đoạt được của anh P đi cầm. Hội đồng xét xử ghi nhận.
01 USB chứa 02 đoạn video ghi nhận Nguyễn Văn Th mang điện thoại di động đến tiệm cầm đồ “A Đạt” cầm, tiếp tục lưu trữ kèm theo hồ sơ vụ án.
Về án phí: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Th phạm tội “Cướp tài sản”.
- Áp dụng khoản 1 Điều 168; điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Th 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 12/11/2020.
- Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Tiếp tục lưu trữ kèm theo hồ sơ vụ án 01 USB chứa 02 đoạn video ghi nhận Nguyễn Văn Th mang điện thoại di động đến tiệm cầm đồ “A Đạt”.
- Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án. Riêng bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc niêm yết.
| Nơi nhận: - Bị cáo, Bị hại; NCQLNVLQ - VKSND, CA, Chi cục THA TP.TĐ - PC27 - VKSND Tp.HCM; - Sở Tư pháp Tp.HCM - Lưu HS | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Đỗ Thị Thu Thảo |