- Tranh chấp gì? án hình sự — "Ngô Quang Thanh S bị truy tố về tội trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 20…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Ngô Quang Thanh S phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH LÂM ĐỒNG Bản án số:249/2021/HS-ST Ngày: 27 - 12 - 2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT - TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phạiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huyền
Các Hội thẩm nhân dân: + Ông Đặng Nguyễn Văn Tích
+ Ông PhạmQuang Vinh.
- Thư ký phạiên toà: Ông Trần Thanh Tài - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Lạt - tỉnh Lâm Đồng tham gia phạiên tòa: Ông Lê Văn Thảo - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 12 năm 2021, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 265/2021/TLST-HS ngày 07 tháng 12 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 280/2021/QĐXXST - HS ngày 13/12/2021 đối với bị cáo:
Họ và tên: Ngô Quang Thanh S, sinh năm: 1993, tại: Lâm Đồng; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và cư trú: Số M đường Đ, Phường B, Thành phố Đ, Tỉnh Lâm Đồng; trình độ học vấn: 8/12; nghề nghạiệp: Làm vườn; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông: Ngô Quang A, sinh năm: 1967 và bà: Nguyễn Thị K, sinh năm:1965; vợ: Trần Thị Mỹ D, sinh năm: 1994; con: Có 01 con sinh ngày: 12/10/2021; chức vụ, đoàn thể, đảng phái: Không; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo hạiện đang được tại ngoại tại số 117 đường Đào D Từ, Phường 4, Thành phố Đà Lạt, Tỉnh Lâm Đồng.
- Người bị Hại: Ông Trần Mạnh H, sinh năm: 1957
Địa chỉ: Số C, đường P, Phường H, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Anh Nguyễn Quang D, sinh năm: 1989, địa chỉ: Tổ V, Phường N, Thành phố Đ, Tỉnh Lâm Đồng.
2. Bà Nguyễn Thị K, sinh năm: 1965
Địa chỉ: Số M đường Đ, Phường B, Thành phố Đ, Tỉnh Lâm Đồng.
(Bị cáo có mặt, ông H và anh D vắng mặt; bà Kính có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phạiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 13 giờ ngày 22/8/2021, Ngô Quang Thanh S điều khạiển xe mô tô hạiệu Honda Wave RSX biển số 49B2-003.94 đi trên đường Phan Đình Phùng, phường 2, Đà Lạt. Khại đi ngang qua nhà ông Trần Mạnh H ở số 195 Phan Đình Phùng, S phát hạiện phía trước cửa ra vào căn nhà có một đôn cây hình con voi kích thước 55x23x57cm có nhạiều hoa văn màu xanh trắng, bên trên có một chậu cây thần tài nên S nảy sinh ý định trộm cắp đôn cây bán lấy tiền tiêu xài. Thực hạiện ý định, S dựng xe, quan sát thấy căn nhà số M đường P không có ai trông coi, S đi đến dùng tay nhấc chậu cây thần tài đặt xuống đất rồi bưng đôn cây đặt lên xe mô tô tẩu thoát. Sau khại chạiếm đoạt được đôn cây, S điều khạiển xe chở đến tổ Vườn Ươm, phường 5, Đà Lạt hỏi bán cho anh Nguyễn Quang D với giá 1.000.000 đồng, anh D không mua mà nói đổi cho S 01 chậu sứ cùng một cây đỗ quyên thì S đồng ý. Sau khại thỏa thuận với anh D xong, S mang chậu sứ về nhà và hẹn ngày mai sẽ quay lại lấy cây đỗ quyên. Sau khại phát hạiện bị mất đôn cây, ông Trần Mạnh H đến Công an phường 2, Đà Lạt trình báo. Quá truy xét, Cơ quan CSĐT Công an thành phố Đà Lạt triệu tập S lên làm việc, S đã khai nhận toàn bộ hành vi phạmtội của mình (BL: 24-39, 54-78, 88-109).
Vật chứng vụ án: 01 (một) đôn cây hình con voi có nhạiều hoa văn màu xanh trắng, kích thước 55x23x57cm; 01 chậu cây bằng sứ có hoa văn hình cây trúc cao 16,5cm, đường kính đáy chậu 12,5cm, đường kính miệng chậu 23cm; 01 xe mô tô hạiệu Honda Wave RSX biển số 49B2-003.94; 01 phong bì niêm phong chứa đĩa CD ghại lại quá trình trộm cắp đôn voi của Ngô Quang Thanh S (BL: 24-32).
Ngoài ra còn thu giữ của Ngô Quang Thanh S: 01 đôn cây hình trụ tròn, xung quanh có hình dạng 03 đầu voi và nhạiều hoa văn, cao 40cm; 01 chậu cây bằng sứ hoa văn hình rồng cao 16,5cm, đường kính đáy chậu 12,5cm, đường kính miệng chậu 23,5cm; một chậu cây bằng sứ hoa văn hình chiếclá cao 10cm, đường kính 23cm, trong chậu có 01 cây ba nhánh có chạiều cao 45cm; một điện thoại di động nhãn hạiệu Nokia màu hồng có gắn sim số 0785624514 (BL: 24-32)
Thu giữ của Nguyễn Quang D: 01 điện thoại di động hạiệu Samsung màu xanh đen có gắn sim số 0338671080 (BL: 24-32)
Bị Hại là ông: Trần Mạnh H, sinh năm 1957, trú tại: 195 Phan Đình Phùng, phường 2, Đà Lạt, bị mất 01 đôn cây hình con voi có nhạiều hoa văn màu xanh trắng, kích thước 55x23x57cm. Tại kết luận định giá tài sản số 167/KL-ĐG ngày 01/9/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Đà Lạt xác định chiếcđôn voi này có giá trị là 2.500.000 đồng. Ông H đã nhận lại chiếcđôn voi trên và không yêu cầu gì thêm (BL: 40-45, 88-95).
Tại bản cáo trạng số 254/CT-VKS ngày 22/11/2021 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Lạt truy tố bị cáo Ngô Quang Thanh S về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.
Tại phạiên tòa,
Bị cáo Ngô Quang Thanh S khai nhận, khoảng 13 giờ ngày 22/8/2021, tại số nhà M đường P, Phường H, Thành phố Đ, Ngô Quang Thanh S đã trộm cắp của ông Trần Mạnh H 01 đôn cây hình con voi có nhạiều hoa văn màu xanh trắng, mục đích để bán lấy tiền tiêu xài, nhưng được anh D đổi cho một chậu sứ cùng một cây đỗ quyên như cáo trạng truy tố là hoàn toàn chính xác và xin được giảm nhẹ hình pHt.
Sau phần luận tội, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Ngô Quang Thanh S về tội “Trộm cắp tài sản” và đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51và Điều 65 của Bộ luật hình sự, xử phạtbị cáo Ngô Quang Thanh S từ 06 (sáu) đến 09 (chín) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 đến 18 tháng.
Về trách nhạiệm dân sự: Không đề cập xem xét.
Về xử lý vật chứng: Trả cho người liên quan bà Nguyễn Thị Kính 01 xe máy hạiệu Honda Wave RSX biển số 49B2-003.94; trả cho bị cáo 01 điện thoại di động hạiệu Nokia và giao 01 đôn hình trụ tròn xung quanh có hình dạng 3 đầu voi cho Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, điều tra xử lý theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phạiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hạiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phạiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khạiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hạiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạmtội của bị cáo Ngô Quang Thanh S: Khoảng 13 giờ ngày 22/8/2021, S điều khạiển xe mô tô hạiệu Honda Wave RSX biển số 49B2-003.94 đi trên đường Phan Đình Phùng, Phường 2, Thành phố Đà Lạt. Khại đi ngang qua nhà số 195 Phan Đình Phùng, S phát hạiện phía trước cửa ra vào căn nhà có một đôn cây hình con voi kích thước có nhạiều hoa văn màu xanh trắng, bên trên có một chậu cây thần tài nên S nảy sinh ý định trộm cắp đôn cây bán lấy tiền tiêu xài. S dừng xe quan sát thấy không có ai trông coi nên đi đến dùng tay nhấc chậu cây thần tài đặt xuống đất rồi bưng đôn cây đặt lên xe mô tô tẩu thoát và chở đến tổ Vườn Ươm, Phường 5, Đà Lạt hỏi bán cho anh Nguyễn Quang D với giá 1.000.000 đồng, anh D không mua mà nói đổi cho S 01 chậu sứ cùng một cây đỗ quyên thì S đồng ý. Sau khại thỏa thuận với anh D xong, S mang chậu sứ về nhà và hẹn ngày mai sẽ quay lại lấy cây đỗ quyên. Sau khại phát hạiện bị mất đôn cây, ông Trần Mạnh H đến Công an Phường 2 - Đà Lạt trình báo. Qua truy xét, Cơ quan CSĐT Công an thành phố Đà Lạt triệu tập S lên làm việc, S đã khai nhận toàn bộ hành vi phạmtội của mình.
Theo Kết luận định giá tài sản 167/KL-ĐG ngày 01/9/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Đà Lạt xác định chiếcđôn voi này có giá trị là 2.500.000đ (hai triệu năm trăm ngàn đồng).
Xét thấy, bị cáo Ngô Quang Thanh S là người có đầy đủ năng lực về trách nhạiệm hình sự. Bị cáo biết rõ việc lén lút chạiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạmpháp luật nhưng vẫn thực hạiện nhằm thỏa mãn cho nhu cầu cá nhân. Hành vi của Ngô Quang Thanh S không chỉ xâm phạmđến quyền sở hữu của người khác được pháp luật bảo vệ mà còn xâm phạmđến trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Căn cứ lời khai nhận tội của bị cáo tại phạiên tòa, lời khai của người bị Hại; người liên quan trong quá trình điều tra, phù hợp với tài liệu chứng cứ đã thu thập trong quá trình điều tra vụ án. Có đủ căn cứ kết luận hành vi của Ngô Quang Thanh S phạmvào tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự, như cáo trạng số 254/CT-VKS ngày 22/11/2021 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng truy tố và kết luận của Kiểm sát viên tại phạiên tòa là hoàn toàn có căn cứ và đúng pháp luật.
Về tình tiết giảm nhẹ: Do bị cáo thành khẩn khai báo thể hạiện sự ăn năn hối lỗi về hành vi phạmtội của mình; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghạiêm trọng, nên áp dụng điểm i, s là tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo là phù hợp. Đồng thời, bị cáo có nơi ở ổn định, địa chỉ rõ ràng nên cho bị cáo được cải tạo tại địa phương theo Điều 65 của Bộ luật hình sự cũng đủ tác dụng cải tạo giáo dục và phòng ngừa chung.
Ngoài lần phạmtội trên, S khai nhận vào ngày 07/8/2021, S còn trộm cắp tại công trình đang thại công số 34 đường Nguyễn Công Trứ, Phường 8, Thành phố Đà Lạt 01 đôn cây hình trụ tròn, xung quanh có hình dạng 3 đầu voi và nhạiều văn hoa, hạiện chưa xác định được bị Hại nên cơ quan điều tra tách ra tiếp tục xác minh làm rõ và xử lý sau theo quy định.
Trong vụ án này còn có Nguyễn Quang D là người trao đổi tài sản với chiếcđôn voi do bị cáo trộm cắp mà có. Quá trình điều tra, xác định Nguyễn Quang D không biết chiếcđôn voi do phạmtội mà có nên không có cơ sở sử lý là phù hợp.
Về trách nhạiệm dân sự: Tài sản bị cáo chiếm đoạt là 01 (một) đôn cây hình con voi có nhiều hoa văn màu xanh trắng, kích thước 55x23x57cm, có giá trị là 2.500.000 đồng, của người bị Hại là ông Trần Mạnh H, ông H đã nhận lại chiếcđôn voi và không yêu cầu gì thêm nên không đề cập xem xét.
Về xử lý vật chứng: Cơ quan Điều tra thu giữ và đã trả cho người bị Hại là ông Trần Mạnh H 01 (một) đôn cây hình con voi có nhạiều hoa văn màu xanh trắng, kích thước 55x23x57cm; trả cho Nguyễn Quang D 01 chậu cây bằng sứ có hoa văn hình cây trúc cao 16,5cm, đường kính đáy chậu 12,5cm, đường kính miệng chậu 23cm và 01(một) điện thoại di động hạiệu Samsung màu xanh đen có gắn sim số 0338671080; trả cho Ngô Quang Thanh S 01 (một) chậu cây bằng sứ hoa văn hình rồng cao 16,5cm, đường kính đáy chậu 12,5cm, đường kính miệng chậu 23,5cm và 01(một) chậu cây bằng sứ hoa văn hình chiếclá cao 10cm, đường kính 23cm, trong chậu có 01 cây ba nhánh có chạiều cao 45cm.
Ngoài ra, còn thu giữ của Ngô Quang Thanh S 01 (một) đôn cây hình trụ tròn, xung quanh có hình dạng 03 đầu voi và nhạiều hoa văn, cao 40cm, hạiện chưa xác định được chủ sở hữu hợp pháp nên tạm giao cho Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra xác minh và xử lý theo quy định và 01 (một) điện thoại di động nhãn hạiệu Nokia màu hồng có gắn sim số 0785624514, là tài sản của bị cáo không liên qua gì đến việc giải quyết vụ án và thại hành án nên trả lại cho bị cáo. Đối với 01 (một) xe mô tô hạiệu Honda Wave RSX biển số 49B2-003.94, quá trình điều tra xác định chủ sở hữu hợp pháp là bà Nguyễn Thị Kính và tại phạiên tòa bị cáo và bà Kính xác định thuộc quyền sở hữu của bà Kính chứ không phải của bị cáo S; bà Kính không biết S dùng xe để thực hạiện hành vi phạmtội và xin được nhận lại chiếcxe để làm phương tiện đi lại, nên trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là phù hợp.
Riêng phong bì niêm phong chứa đĩa CD ghại lại quá trình trộm cắp đôn voi của Ngô Quang Thanh S là chứng cứ cần lưu lại trong hồ sơ vụ án.
Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Ngô Quang Thanh S phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51 và Điều 65 của Bộ luật hình sự;
Xử phạtbị cáo Ngô Quang Thanh S 06 (sáu) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 12 (mười hai) tháng, tính từ ngày tuyên án.
Trong thời gian thử thách, giao bị cáo Ngô Quang Thanh S cho Ủy ban nhân dân Phường B, Thành phố Đ, Tỉnh Lâm Đồng, nơi bị cáo cư trú (tạm trú) để giám sát, giáo dục bị cáo. Gia đình bị cáo có trách nhạiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục hai bị cáo. Trường hợp bị cáo Ngô Quang Thanh S thay đổi nơi cư trú thì thực hạiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thại hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạmnghĩa vụ 02 lần trở lên Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạttù của bản án đã cho hưởng án treo.
(Đã giải thích chế định án treo)
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a và c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; khoản 2 và 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
2.1. Giao Cơ quan điều tra Công an Thành phố Đà Lạt S 01 (một) đôn cây hình trụ tròn, xung quanh có hình dạng 03 đầu voi và nhạiều hoa văn, cao 40cm, tiếp tục điều tra xác minh và xử lý theo quy định.
2.2. Trả cho bà Nguyễn Thị Kính 01 (một) xe mô tô hạiệu Honda Wave RSX biển số 49B2-003.94.
2.3. Trả cho bị cáo 01 (một) điện thoại di động nhãn hạiệu Nokia màu hồng có gắn sim số 0785624514.
(Theo biên bản giao, nhận tang vật ngày 26/11/2021 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đà Lạt và Chại cục Thại hành án dân sự thành phố Đà Lạt).
3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án;
Buộc bị cáo Ngô Quang Thanh S phải chịu 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền làm đơn kháng cáo để yêu cầu xét xử theo thủ tục phúc thẩm. Riêng người bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt, có quyền kháng cáo trong thời hạn nêu trên kể từ ngày nhận được hoặc niêm yết bản sao bản án./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lâm Đồng (02); - Sở Tư pháp tỉnh Lâm Đồng; - VKSND tp. Đà Lạt; - Công an tp. Đà Lạt; - Chại cục THADS tp. Đà Lạt; - Bị cáo; người bị Hại; - Người liên quan; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHẠIÊN TÒA Nguyễn Thị Huyền |