vanban.org

Bản án 249/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chị Mai Thị K được ly hôn với anh Tống Thành T.

Về nuôi con chung: Giao con chung tên Tống Thành Ki, sinh ngày 27/5/2006 cho chị Mai Thị K được quyền nuôi dưỡng. Anh Tống Thành T không phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Mai Thị K và Tống Thành T"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chị Mai Thị K được ly hôn với anh Tống Thành T.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ TÂN CHÂU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 249/2019/HNGĐ-ST
Ngày: 20-6-2019
“V/v Ly hôn giữa chị K và anh T”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Ngọc Lan

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Minh Đức;

2. Ông Phạm Thế Phương.

- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Mộng Thu là Thư ký Tòa án nhân dân thị xã TC, tỉnh AG.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã TC tham gia phiên tòa: Ông Đặng Tấn Tài – KSV.

Ngày 20 tháng 6 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã TC xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 394/2018/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 12 năm 2018 về “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 165/2019/QĐST-HNGĐ ngày 06 tháng 5 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 211/2019/QĐST-HNGĐ ngày 30 tháng 5 năm 2019 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Mai Thị K, sinh năm 1978, nơi cư trú: Tổ 7, khu phố 3, phường TC, thành phố HT, tỉnh KG. (có mặt).

2. Bị đơn: Anh Tống Thành T, sinh năm 1968, nơi cư trú: Tổ 7, ấp LH, xã LA, thị xã TC, tỉnh AG. (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 19/10/2018 và trong quá trình xét xử, nguyên đơn chị Mai Thị K trình bày: Hôn nhân của anh chị là do anh chị tự tìm hiểu tình cảm yêu thương nhau trước và được cha mẹ hai bên đồng ý nên tiến hành tổ chức lễ cưới vào năm 1996, có đăng ký kết hôn theo giấy chứng nhận kết hôn số: 007; Quyển số I/2002 đăng ký vào ngày 20/10/2003 tại UBND phường TC, thị xã HT, tỉnh KG. Sau khi kết hôn thì cuộc sống vợ chồng có hạnh phúc đến năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân: Do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, thường xuyên xảy ra cự cãi, xung đột làm cho cuộc sống chung của vợ chồng không còn hạnh phúc và vợ chồng sống ly thân nhau từ năm 2016 cho đến nay. Nay tình cảm vợ chồng không còn nên chị K yêu cầu được ly hôn với anh T. Trong thời gian chung sống anh chị có 02 đứa con chung tên Tống Thành K, sinh ngày 09/10/1997 (đã trưởng thành và lao động được) và Tống Thành Ki, sinh ngày 27/5/2006. Hiện nay các con đang sống với chị K. Chị K yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu Ki và chị không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung chị K khai không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tòa án đã thông báo về việc thụ lý vụ án, thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cho anh Tống Thành T đến Tòa án để cung cấp lời khai, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng anh T đều vắng mặt không có lý do nên Tòa án không tiến hành hòa giải được vụ án.

Tại phiên tòa chị K vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

- Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã TC:

Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, các đương sự chấp hành thủ tục tố tụng từ khi thụ lý đến khi xét xử đã thực hiện đúng theo quy định tại các Điều 70, 71, 191, 192, 203 và Điều 239 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận chị Mai Thị K được ly hôn với anh Tống Thành T; về nuôi con chung: Giao con chung Tống Thành Ki, sinh ngày 27/5/2006 cho chị K được quyền nuôi dưỡng, chị K không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung; về tài sản chung: Chị K không yêu cầu Tòa án giải quyết và về nợ chung: Không có, đề nghị Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

Về án phí: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì chị Mai Thị K phải chịu 300.000 đồng án phí HNGĐ sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên toà và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Tòa án nhân dân thị xã TC nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

Về thẩm quyền: Chị Mai Thị K có đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh Tống Thành T có nơi cư trú tại tổ 7, ấp LH, xã LA, thị xã TC, tỉnh AG là thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã TC theo quy định tại khoản 1 Điều 28 điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về sự vắng mặt của đương sự: Bị đơn anh Tống Thành T đã được Tòa án nhân dân thị xã TC triệu tập hợp lệ đến phiên Tòa xét xử lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không lý do. Theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt anh T.

Về nội dung: Chị Mai Thị K và anh Tống Thành T kết hôn với nhau vào năm 1996, có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật nên hôn nhân của anh chị được xem là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn cuộc sống vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn làm cho cuộc sống chung không phù hợp và dẫn đến thường xuyên cự cãi nhau làm cho mâu thuẫn ngày càng trầm trọng và anh chị đã không còn chung sống với nhau từ năm 2016 cho đến nay. Từ khi anh chị sống ly thân nhau anh chị cũng không có thiện chí khắc phục những mâu thuẫn gia đình để vợ chồng đoàn tụ và kể từ ngày chị K nộp đơn xin ly hôn với anh T cho đến nay anh T đã cố tình né tránh không đến tòa án để tham gia hòa giải cũng như tham dự phiên tòa. Hội đồng xét xử cũng đã động viên chị K để vợ chồng đoàn tụ, nhưng chị K vẫn cương quyết ly hôn với anh T. HĐXX nhận thấy tình cảm vợ chồng anh chị không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên HĐXX căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nghĩ nên cho anh chị được ly hôn.

Về nuôi con chung: Trong thời gian chung sống chị K và anh T có 02 đứa con chung tên Tống Thành K, sinh ngày 09/10/1997 (đã trưởng thành và lao động được) và Tống Thành Ki, sinh ngày 27/5/2006. Hiện nay các con đang sống với chị K. Chị K yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu Ki và chị không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con. HĐXX xét thấy, từ khi ly thân cho đến nay chị K là người trực tiếp nuôi con và cháu Ki cũng có nguyện vọng được sống với mẹ. Do đó để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con và vì lợi ích của con HĐXX căn cứ vào các Điều 58, Điều 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nghĩ nên giao con chung cho chị Mai Thị K được quyền nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng nuôi con: Do chị K không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con nên HĐXX không xem xét việc cấp dưỡng nuôi con chung đối với anh T.

Về tài sản chung: Tại phiên tòa chị K khai vợ chồng không có tài sản chung và không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do anh T vắng mặt nên HĐXX không xem xét về tài sản chung của anh chị. Nếu anh T chứng minh được vợ chồng có tài sản chung và yêu cầu chia tài sản chung thì anh có quyền khời kiện bằng một vụ kiện khác.

- Về nợ chung: Không có.

Về án phí: Theo quy định tại khoản 4 Điều 147 và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì chị Mai Thị K phải chịu 300.000đ tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228, khoản 1 Điều 273, Điều 278 và khoản 1 Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 56 và Điều 58, Điều 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Điều 2, Điều 6, Điều 7, Điều 9 và Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Chị Mai Thị K được ly hôn với anh Tống Thành T.

2. Về nuôi con chung: Giao con chung tên Tống Thành Ki, sinh ngày 27/5/2006 cho chị Mai Thị K được quyền nuôi dưỡng. Anh Tống Thành T không phải cấp dưỡng nuôi con.

3. Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Về nợ chung: Không có.

5. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Mai Thị K phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp biên lai thu số: 0009552 ngày 26/11/2018 của Chi cục Thi hành án Dân sự thị xã TC, tỉnh AG.

“Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc tống đạt hợp lệ”.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ