vanban.org

Bản án 248/2025/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điề…"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 248/2025/HS-ST
Ngày: 25/4/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Minh Vương

Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Nguyễn Cửu Long

2/ Bà Nguyễn Hương Thủy

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Trí – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Huệ – Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 4 năm 2024, tại Toà án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 106/2025/TLST-HS ngày 25 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 178/2024/TLST-HS ngày 20 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo:

Lê Trọng P; Sinh năm 1999 tại tỉnh Sóc Trăng; Hộ khẩu thường trú và cư trú: Ấp 9, thị trấn Hưng Lợi, huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng; Nghề nghiệp: nông dân; Trình độ học vấn: 7/12; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Trọng D và bà Ông Minh L; vợ tên Võ Thị Diệu N, chưa có con.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giam từ ngày 16/10/2024 cho đến nay.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Ông Trần Văn Ú, sinh năm 1970 (đã chết)

Người đại diện hợp pháp của ông Ú: Em Trần Văn Đ, sinh năm 2004 (vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp Đất Sét, xã Phú Thuận, huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do cùng làm phụ hồ tại Vinhome phường Long Thạnh Mỹ, thành phố Thủ Đức nên giữa anh Trần Văn Ú (sinh năm 1979) quen biết với Lê Công L1 (sinh năm 1997) và Lê Trọng P (sinh năm 1999). Chiều ngày 27/7/2022, anh Trần Văn Ú đi chợ mua đồ ăn, rượu về rồi cùng với Lê Công L1, Lê Trọng P tổ chức ăn nhậu. Trong lúc uống rượu thì giữa L1 và P xảy ra tranh cãi về việc nhận tiền công làm hồ, anh Ú can ngăn nhưng P không nghe mà đòi đánh L1. Trong lúc can ngăn hai bên, anh Ú dùng tay tát vào mặt P một cái rồi đuổi P đi về. Sau khi về đến phòng thuê trọ tại địa chỉ 9973/11, đường 35, khu phố Long Bửu, phường Long Bình, thành Thủ Đức, P kể lại cho Châu Tấn P1 (sinh năm: 2000, P1 ở chung nhà trọ với P và cùng làm thợ hồ chung với Ú, L1 và P) nghe việc vừa tranh cãi với L1, rồi P rủ P1 đi cùng đến gặp L1 để nói rõ ràng việc nhận tiền công làm hồ (nhận theo ngày, theo tuần hay tạm ứng). Cùng lúc này, có hai người bạn của P và P1 quen biết ngoài xã hội (hiện chưa rõ lai lịch) vừa chạy xe mô tô tới chơi thì P và P1 rủ đi theo. Khoảng 23 giờ 00 ngày 27/7/2022, Trần Văn Ú và anh Lê Công L1, đang ngủ trong phòng trọ tại địa chỉ nhà không số, hẻm 545, đường Nguyễn Xiển, khu phố Gò Công, phường Long Thạnh Mỹ, thành phố Thủ Đức thì Lê Trọng P, Châu Tấn P1 và hai người bạn của P1 (hiện chưa rõ lai lịch), P cầm theo 01 con dao đến. Khi đến nơi, hai người bạn của P, P1 đứng bên ngoài đường giữ xe (không đi vào cùng) P, P1 đi vào phòng trọ (nơi Ú và L1 đang ở). P dùng dao gõ vào cửa kêu L1 ra nói chuyện, bất ngờ anh Ú mở cửa cầm dao xông ra nói “tao đâm chết mẹ mày” rồi đuổi theo đòi đâm P. L1 đứng trước phòng thì bị P1 chặn lại chửi đe dọa đánh, sau đó P1 bỏ đi ra bên ngoài đường chỗ đậu xe. Anh Ú đuổi theo P để đòi đâm nhưng chưa đâm được thì bị P quay lại chém khoảng 2 đến 3 nhát (không nhớ chính xác) trúng vào vùng cằm bên phải và tay trái gây chảy máu, anh Ú ôm tay chạy quay vào phòng trọ, còn P, P1 và hai người bạn của P, P1 đi cùng lên xe mô tô bỏ đi.

Ngày 15/8/2022, ông Trần Văn Ú có đơn yêu cầu giám định thương tích và xử lý hình sự đối với vụ Lê Trọng P (bút lục 71).

Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 172/TgT.23 ngày 24/3/2023 của Trung tâm pháp y Sở y tế thành phố H đối với Trần Văn Ú kết luận (bút lục 49-52):

Vết thương vùng cằm phải đã được điều trị hiện còn một sẹo kích thước 3,5x0,1cm có tỉ lệ 03% (Ba phần trăm). Thương tích do vật sắc, vật sắc nhọn hoặc vật có cạnh sắc tác động gây ra.

Vết thương mặt trước 1/3 dưới cẳng tay trái gây đứt da, đứt gân gan ty dài và nhóm các gân gấp, đứt bó mạch quay, trụ, đứt thần kinh giữa, trụ và đứt bản phần thần kinh quay nông đã được điều trị mở rộng vết thương, khâu nối động mạch và thần kinh, khâu gân cơ da, hiện còn:

+ Một sẹo trùng sẹo mổ kích thước 16x(0,1-0,4) cm (ảnh 2,3,4).

+ Hình ảnh viêm phù nề mô mềm vùng sẹo kèm dày dính các gân gấp trên siêu âm.

+ Tổn thương thần kinh quay nông hồi phục, còn tổn thương thần kinh trụ, giữa trên điện cơ đồ.

+ Hạn chế vận động các ngón, teo cơ ô mô út, mô cái và gian cốt mu tay, mất cảm giác lòng ngón tay, mặt mu vùng bàn hai ngón rưỡi trong, đốt xa hai ngón rưỡi ngoài.

Có tỉ lệ 32% (Ba mươi hai phần trăm).

Thương tích do vật sắc, vật sắc nhọn hoặc vật có cạnh sắc tác động xảy ra gây nguy hiểm đến tính mạng đương sự.

Cộng hai tỉ lệ trên theo qui định tại Thông tư 22/2019 TT-BYT sẽ ra tỉ lệ 34% (Ba mươi bốn phần trăm).

Theo Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y tế quy định tỉ lệ tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần: Tỉ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là: 34% (Ba mươi bốn phần trăm). Kết luận khác: Thông tư 22/2019/TT-BYT không qui định về cố tật.

Ngày 18/5/2023, ông Trần Văn Ú chết, được Ủy ban nhân dân xã Phú Thuận, huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau cấp giấy báo tử số 40/2023 ngày 22/5/2023.

Ngày 15 tháng 8 năm 2024, Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố T ra Quyết định khởi tố bị can và áp dụng Lệnh bắt bị can để tạm giam đối với Lê Trọng P.

Tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T, Lê Trọng P đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên (bút lục 111-116, 156-159).

* Vật chứng vụ án:

- 01 con dao (không thu giữ được).

- Về trách nhiệm dân sự: Lê Trọng P đã bồi thường cho ông Trần Văn Ú và người đại diện số tiền 15.500.000 đồng. Do ông Trần Văn Ú đã chết và vợ của ông Ú là bà Trần Thị T cũng đã chết nên anh Trần Văn D1 (con trai của ông Ú) đại diện hợp pháp theo quy định đã có đơn bãi nại cho P (bút lục 105).

Cáo trạng số 121/CT-VKSTPTĐ ngày 20/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố Lê Trọng P về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa:

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức giữ nguyên quan điểm đã truy tố bị cáo như Bản cáo trạng và đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 tuyên bố bị cáo Lê Trọng P phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 50 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Lê Trọng P từ 05 năm 06 tháng tù đến 06 năm tù.

Về xử lý vật chứng: Không có.

Về trách nhiệm dân sự: bị cáo đã tự nguyện bồi thường, bị hại không có yêu cầu nên không xem xét.

Về án phí: buộc bị cáo chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.

- Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng đã nêu, có thái độ khai báo thành khẩn, nhận tội, ăn năn hối cải và xin xem xét được mức án thấp nhất để có điều kiện chăm sóc cho gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thủ Đức, của Kiểm sát viên và Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, trong quá trình điều tra truy tố là thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; Bị cáo, bị hại và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng và cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai nhận tội của Lê Trọng P tại phiên tòa phù hợp với chính lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại và phù hợp với lời khai của người làm chứng; Bản ảnh thực nghiệm hiện trường; Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 172/TgT.23 ngày 24/3/2023 của Trung tâm pháp y Sở y tế thành phố H. Đã có đủ cơ sở để Hội đồng xét xử kết luận:

Khoảng 23 giờ 00 ngày 27/7/2022, tại trước nhà không số, hẻm 545, đường Nguyễn Xiển, khu phố Gò Công, phường Long Thạnh Mỹ, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh, Lê Trọng P đã thực hiện hành vi dùng dao chém 02 cái vào vùng cằm bên phải và cẳng tay trái của anh Lê Văn Ú1, gây thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 34%.

Theo kết quả chuẩn đoán của Bệnh viện C theo Giấy ra viện ngày 16/5/2023 ghi nhận anh Ú1 bị u ác thân vị; các bệnh máu và cơ quan tạo máu khác (thiếu máu nặng; rối loạn đông máu); viêm gan virus cấp xác định khác; anh Ú1 được chỉ định thở oxy, …, mổ cấp cứu nhưng anh Ú1 ra viện theo dạng con ruột là anh Trần Văn D1 xin về. Do đó có căn cứ xác định nguyên nhân anh Ú1 chết không phải từ việc bị P chém gây nên.

Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 172/TgT.23 ngày 24/3/2023 của Trung tâm pháp y Sở y tế thành phố Hồ Chí Minh đối với Trần Văn Ú có ghi nhận “Thương tích do vật sắc, vật sắc nhọn hoặc vật có cạnh sắc tác động xảy ra gây nguy hiểm đến tính mạng đương sự”. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử xét hành vi của bị cáo khi bị anh Ú cầm dao đuổi theo thì bị cáo quay lại thực hiện hành chém bâng quơ vào anh Ú, không có chủ đích chém vào những vùng trọng yếu của anh Ú và không có ý định giết anh Ú, sau khi chém trúng anh Ú cũng không tiếp tục thực hiện hành vi mà bỏ về, kết luận về vết thương được nêu là ở khu vực cẳng tay nên có căn cứ xác định bị cáo chỉ thực hiện hành vi cố ý gây thương tích đối với anh Ú mà không phải là hành vi giết người.

Cáo trạng số 121/CT-VKSTPTĐ ngày 20/02/2025 truy tố bị cáo Lê Trọng P đã phạm tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Đối với các đối tượng là Châu Tấn P1 và hai người bạn xã hội của P1, P (không rõ lai lịch) được P rủ đi giải quyết mâu thuẫn không biết trước và không bàn bạc trước, không tham gia việc gây thương tích cho anh Ú nên không có căn cứ xử lý hình sự.

Về tình tiết định khung tăng nặng hình phạt: Bị cáo sử dụng hung khí nguy hiểm gây thương tích cho bị hại có mức tổn thương tổng cộng là 34% nên thuộc trường hợp áp dụng định khung theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự áp dụng đối với bị cáo:

Về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Xét trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu, bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho bị hại để khắc phục hậu quả và có đơn bãi nại bên bị hại nên được giảm nhẹ một phần hình phạt theo quy định tại điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội, hình phạt đối với bị cáo:

Hội đồng xét xử đánh giá mức độ hành vi phạm tội của bị cáo theo quy định pháp luật là rất nghiêm trọng. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý, bị cáo là người hoàn toàn biết rõ công dân được pháp luật bảo vệ về sức khỏe, tính mạng và nếu không được pháp luật cho phép thì không ai được quyền xâm phạm đến tính mạng sức khỏe của người khác, nhưng chỉ vì mâu thuẫn nhỏ mà xem thường các nguyên tắc xử sự thông thường của cuộc sống, sử dụng hung khí nguy hiểm gây ra thương tích cho người khác. Tội phạm do bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, làm ảnh hưởng xấu đến cuộc sống bình thường của người dân xung quanh, cần được xử lý nghiêm để đảm bảo tính răn đe của pháp luật. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải xử phạt bị cáo với mức án tương xứng, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục bị cáo nói riêng và đấu tranh phòng ngừa tội phạm nói chung trong toàn xã hội.

Xét đề nghị về mức hình phạt của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức là phù hợp với tính chất, hành vi, mức độ phạm tội của bị cáo và nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp thuận.

Về xử lý vật chứng: Con dao do bị cáo P sử dụng thực hiện hành vi phạm tội không thu hồi được nên không có vật chứng để xử lý.

Về trách nhiệm dân sự: gia đình bị hại đã nhận được số tiền bồi thường của bị cáo là 15.500.000 đồng và không có yêu cầu trách nhiệm bồi thường khác nên hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa, đổi bổ sung năm 2017.

Tuyên bố: Bị cáo Lê Trọng P phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

2. Áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa, đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt: Lê Trọng P 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 16/10/2024.

3. Về án phí:

Áp dụng Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Buộc bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo:

Áp dụng Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ