vanban.org

Bản án 248/2019/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Hai Bà Trưng, TP. Hà Nội Tuyên án 27/11/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Trần Mạnh Đ phạm tội “ Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Trần Mạnh Đ 30 ( ba mươi ) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 04/9/2019. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự 2015 và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "TRẦN MẠNH Đ - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Mạnh Đ phạm tội “ Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
QUẬN HAI BÀ TRƯNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Bản án số: 248/2019/HS-ST
Ngày: 27/11/2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HAI BÀ TRƢNG - THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lại Nguyệt Ánh

- Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Thọ

Bà Hoàng Thị Thiệu

- Thƣ ký phiên toà: Ông Lê Quang Đạo - Thƣ ký Toà án nhân dân quận Hai Bà Trƣng, Thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trƣng - Thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Bà Vũ Thị Thu Hà - Kiểm sát viên sơ cấp.

Ngày 27 tháng 11 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trƣng, Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 256/2019/HSST ngày 14 tháng 11 năm 2019 theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số: 232/2019/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 11 năm 2019 đối với bị cáo:

Họ và tên: TRẦN MẠNH Đ – sinh năm:1984; Tên thƣờng gọi khác: không; HKTT: xã C, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên; Nơi ở: lang thang; Nghề nghiệp: không; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Trình độ văn hoá: 12/12; Con ông: Trần Thanh D; Con bà: Lã Thị L; Nhân thân: 04 tiền án đã đƣợc xóa: Ngày 30/6/2006, TAND TP. Thái Nguyên xử phạt 6 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản và 15 tháng tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản; Ngày 20/3/2009, TAND TP. Thái Nguyên xử phạt 18 tháng tù về tội Cƣớp giật tài sản; Ngày 11/5/2009, TAND TP. Thái nguyên xử 18 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Tổng hợp hình phạt 18 tháng tù của án xử ngày 20/3/2009 bị cáo phải thi hành cho hai bản án là 36 tháng tù; Ngày 19/7/2011, TAND huyện Đông Anh xử 8 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản; 02 tiền án chƣa đƣợc xóa: Ngày 18/10/2013, TAND Q.Hai Bà Trƣng xử 34 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản; Ngày 29/5/2017, TAND TP. Vinh tỉnh Nghệ An xử 30 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản; Danh chỉ bản số: 0308 ngày 06/9/2019 do công an quận Hai Bà Trƣng cấp; Bị cáo bị bắt ngày 04/9/2019.

Bị cáo có mặt tại phiên toà.

*Người bị hại: Chị La Thị H – 1973; HKTT: phƣờng B, quận H, Hà Nội ( vắng mặt tại phiên tòa )

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:

Khoảng 10h15’ ngày 4 tháng 9 năm 2019, Trần Mạnh Đ lang thang đi bộ đến cửa hàng Mỹ phẩm tại 50 Thọ Lão, phƣờng Đống Mác, quận Hai Bà Trƣng, Hà Nội thấy cửa mở, trên bàn gần cửa có 01 điện thoại A35 nhãn hiệu Oppo màu đen đang cắm sạc và một túi xách màu đen của chị La Thị H (SN 1973, HKTT: phƣờng B, quận H, Hà Nội) để tại tủ kính gần khu vực bếp không có ngƣời trông giữ, Đ nẩy sinh ý định trộm cắp. Đ đi vào lấy điện thoại và túi xách cho vào cặp sách của Đ mang theo. Sau khi lấy đƣợc tài sản, Đ bị chị H phát hiện đuổi theo đến trƣớc số nhà 46 Thọ Lão, phƣờng Đống Mác, quận Hai Bà Trƣng, Hà Nội thì bị bắt giữ đƣợc Đ và bàn giao Đ cùng tang vật là 01 điện thoại A35 nhãn hiệu Oppo màu đen, 01 túi sách màu đen bên trong có 4.000.000 đồng, 1 chiếc cặp màu đen cho cơ quan Công an để điều tra làm rõ.

Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an quận Hai Bà Trƣng đã trƣng cầu định giá với tài sản Trần Mạnh Đ đã trộm cắp. Ngày 24/9/2019, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận Hai Bà Trƣng kết luận: 01 điện thoại A35 nhãn hiệu Oppo màu đen trị giá 2.100.000 đồng, 01 túi sách màu đen trị giá 90.000 đồng. Tổng trị giá 2.190.000 đồng.

Tại cơ quan điều tra, Trần Mạnh Đ khai nhận hành vi phạm tội nhƣ đã nêu trên.

Đối với 01 điện thoại A35 nhãn hiệu Oppo màu đen, 01 túi sách màu đen và số tiền 4.000.000 đồng. Quá trình điều tra xác định, tài sản trên là của chị La Thị H. Do vậy, ngày 30/10/2019, Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an quận Hai Bà Trƣng đã trao trả 01 điện thoại A35 nhãn hiệu Oppo màu đen, 01 túi sách màu đen và số tiền 4.000.000 đồng. Chị H nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì về dân sự.

Đối với chiếc cặp màu đen , Đ khai là tài sản của Đ.

Tại cáo trạng số: 256/CT-VKS ngày 11/11/2019, Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trƣng, Thành phố Hà Nội đã truy tố Trần Mạnh Đ về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa,

Bị cáo khai nhận tội nhƣ nội dung cáo trạng đã nêu. Bị cáo thừa nhận: Khoảng 10 giờ 15 phút ngày 04/9/2019 tại cửa hàng mỹ phẩm số 50 Thọ Lão, phƣờng Đống Mác, quận Hai Bà Trƣng, Hà Nội Trần Mạnh Đ đã có hành vi trộm cắp tài sản của chị La Thị H gồm: 01 điện thoại di động A35 nhãn hiệu Oppo, 01 túi sách màu đen bên trong có 4.000.000 đồng, tổng tài sản trộm cắp đƣợc trị giá: 6.190.000 đồng. Bị cáo nhận tội, xin đƣợc giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trƣng giữ quyền công tố tại phiên toà, sau khi phân tích nội dung, tính chất vụ án, một lần nữa khẳng định việc truy tố bị cáo về tội danh và điều luật nhƣ cáo trạng đã nêu là đúng ngƣời, đúng tội, đúng pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt: Trần Mạnh Đ với mức án từ 30 tháng đến 36 tháng tù.

Xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 cặp màu đen thu giữ của bị cáo

Về bồi thƣờng dân sự: Ngƣời bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu gì thêm nên không xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:

Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra công an quận Hai Bà Trƣng, thành phố Hà Nội, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trƣng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi và tội danh: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo, biên bản bắt ngƣời phạm tội quả tang và các tài liệu, chứng cứ khác tại cơ quan điều tra. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 10 giờ 15 phút ngày 04/9/2019 tại cửa hàng mỹ phẩm số 50 Thọ Lão, phƣờng Đống Mác, quận Hai Bà Trƣng, Hà Nội, Trần Mạnh Đ đã có hành vi trộm cắp tài sản của chị La Thị H gồm: 01 điện thoại di động A35 nhãn hiệu Oppo, 01 túi sách màu đen bên trong có 4.000.000 đồng, tổng tài sản trộm cắp đƣợc trị giá: 6.190.000 đồng . Hành vi của bị cáo đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Tội phạm và hình phạt quy định tại Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

Về nhân thân, tiền án, tiền sự và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:

Bị cáo có 06 tiền án về cùng loại tội, trong đó có 02 tiền án chƣa đƣợc xóa. Chứng tỏ bị cáo đã đƣợc các cơ quan pháp luật giáo dục cải tạo nhƣng không chịu sửa chữa mà vẫn tiếp tục phạm tội.

Tuy nhiên, tại phiên tòa hôm nay cũng nhƣ tại cơ quan điều tra bị cáo đã thành khẩn khai nhận tội, bị cáo có bố đẻ đƣợc tặng thƣởng huân chƣơng kháng chiến hạng nhì, nên áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 đối với bị cáo.

Về hình phạt:

- Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu tài sản hợp pháp của công dân, gây mất trật tự, an toàn xã hội. Bị cáo nhận thức hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhƣng vẫn cố tình phạm tội. Bị cáo phạm tội lần này là tái phạm nguy hiểm. Do đó, bị cáo bị Viện kiểm sát truy tố theo điểm g khoản 2 Điều 173 BLHS là hoàn toàn chính xác. Cần phải áp dụng hình phạt tù cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng răn đe giáo dục riêng và phòng ngừa chung trong xã hội.

Tuy nhiên, căn cứ vào các tình tiết giảm nhẹ của bị cáo Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

- Về hình phạt bổ sung: xét trong trƣờng hợp này bị cáo không nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên miễn phạt tiền.

Về biện pháp tƣ pháp: áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự 2015 và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tịch thu tiêu hủy đối với chiếc cặp da đen bị cáo sử dụng để đựng đồ trộm cắp đƣợc.

Về trách nhiệm dân sự: Chị La Thị H đã nhận lại toàn bộ tài sản và không yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xét.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, ngƣời bị hại có quyền kháng cáo theo luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tuyên bố bị cáo Trần Mạnh Đ phạm tội “ Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Trần Mạnh Đ 30 ( ba mươi ) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 04/9/2019.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự 2015 và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015:

Tịch thu tiêu hủy 01 (một) chiếc cặp màu đen kích thƣớc khoảng 40x60cm đã qua sử dụng.

( Biên bản giao nhận tang vật, vật chứng ngày 07 tháng 11 năm 2019, tang vật số 51/20 của Chi cục thi hành án dân sự quận Hai Bà Trƣng, thành phố Hà Nội).

Về án phí và quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 135; khoản 2 Điều 136; Điều khoản 1 Điều 331; Điều 332 và Điều 333; Điều 336; Điều 337 Bộ luật tố tụng hình sự 2015; Điểm a khoản 1 Điều 21 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm. Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Ngƣời bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày đƣợc tống đạt hợp lệ bản án.

TM . HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Cỡ chữ