- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Tranh chấp dân sự"
- Tòa quyết gì? Luật phí và lệ phí năm 2015.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Luật Phí và lệ phí
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐTHỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒCHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 2475/2021/DS-ST. Ngày: 16/12/2021. V/v: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Quốc Thịnh.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Lượng
2. Bà Nguyễn Thị Hương.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trương Thị Giang – Cán bộ Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Bá Thu Thư - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 12 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 401/2020/TLST-DS, ngày 19/10/2020 về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 4789/2021/QĐXXST-DS ngày 25 tháng 10 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số 5360/2021/QĐST -DS ngày 17 tháng 11 năm 2021 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP A.
Địa chỉ trụ sở: 442 Nguyễn Thị M, Phường 5, Quận N, Thành phố Hồ Chí Minh.
Địa chỉ liên hệ: Lầu 8, Toà nhà A, 444A – 446 đường M, Phường 11, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Châu Thành Tr
Văn bản ủy quyền ngày 19/10/2020.
2. Bị đơn: Ông Đỗ Hữu H, sinh năm 1975
Địa chỉ: A10-5 chung cư G, đường D, Khu phố 5, phường L, quận Thủ Đức (nay là Tp. Thủ Đức), Thành phố Hồ Chí Minh.
(Ông Châu Thành Tr có mặt, ông Đỗ Hữu H vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại Đơn khởi kiện ghi ngày 25/8/2020, Bản tự khai, Biên bản không tiến hành hòa giải được, nguyên đơn - Ngân hàng A có ông Châu Thành Tr là người đại diện theo ủy quyền trình bày:
Ngân hàng A cấp thẻ tín dụng cho ông Đỗ Hữu H căn cứ theo: Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng của ông Đỗ Hữu H ký ngày 06/10/2015 và Bản các điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng của A, các văn bản khác của ông Đỗ Hữu H ký với A về việc sử dụng thẻ tín dụng. Chi tiết như sau:
- Số thẻ tín dụng: 5593 1200 0001 1807;
- Ngày cấp: 09/10/2015;
- Loại thẻ: World Mastercard (Thẻ tín dụng quốc tế);
- Hạn mức thẻ: 200.000.000 (Hai trăm triệu) đồng;
- Lãi suất, phí: Theo bản các điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng của A.
Trong quá trình sử dụng thẻ tín dụng, ông Đỗ Hữu H đã không thanh toán đầy đủ cho A theo thông báo giao dịch hàng tháng. Do đó, ngày 20/5/2020, A đã chuyển khoản nợ thẻ của ông Đỗ Hữu H sang nợ quá hạn và chấm dứt sử dụng thẻ. Tính đến ngày 16/12/2021, ông Đỗ Hữu H còn nợ A các khoản sau:
- Vốn gốc: 100.076.746 đồng;
- Lãi quá hạn: 53.894.338 đồng;
- Tổng cộng: 153.971.084 đồng.
Nay yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Đỗ Hữu H trả ngay cho A tổng dư nợ còn thiếu tính đến ngày 16/12/2021 gồm: Vốn gốc là 100.076.746 đồng; lãi quá hạn là 53.894.338 đồng. Tổng cộng: 153.971.084 đồng. Ông Đỗ Hữu H còn phải tiếp tục trả tiền lãi phát sinh theo mức lãi suất nợ quá hạn quy định tại giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng, bản các điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng của A, tính kể từ ngày 17/12/2021 đến ngày trả hết nợ. Thứ tự trả nợ: Vốn gốc, lãi quá hạn. A xác định chỉ yêu cầu cá nhân ông Đỗ Hữu H trả khoản nợ trên, không liên quan người khác.
Quá trình tiến hành tố tụng: Bị đơn – ông Đỗ Hữu H không đến làm việc theo giấy triệu tập và thông báo của Tòa án. Tòa án đã niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng ông H vẫn vắng mặt không có lý do, không có văn bản thể hiện ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức phát biểu: Các trình tự, thủ tục đều tuân thủ quy định của pháp luật nhưng cần rút kinh nghiệm về thời hạn chuẩn bị xét xử. Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
Về thẩm quyền: Nguyên đơn – Ngân hàng A khởi kiện bị đơn – ông Đỗ Hữu H tranh chấp hợp đồng vay tài sản, bị đơn có nơi cư trú tại thành phố Thủ Đức. Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có mặt. Bị đơn – ông Đỗ Hữu H vắng mặt. Căn cứ, Khoản 3 Điều 40 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định “Trường hợp một bên trong quan hệ dân sự thay đổi nơi cư trú gắn với việc thực hiện quyền, nghĩa vụ thì phải thông báo cho bên kia biết về nơi cư trú mới”. Khi tham gia giao kết hợp đồng, ông Đỗ Hữu H ghi địa chỉ ở hiện tại số A10 chung cư G, đường D, Khu phố 5, phường L, quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh. Kết quả xác minh, Công an phường L trả lời: Đỗ Hữu H có đăng ký hộ khẩu tại số A10 chung cư G, đường D, Khu phố 5, phường L, quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2019 ông H bán nhà đi khỏi địa phương, đi đâu không rõ. Do đó, Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức niêm yết các văn bản tố tụng tại nơi cư trú cuối cùng của ông H để giải quyết vụ án. Căn cứ Khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.
Về thời hiệu khởi kiện: Nguyên đơn và bị đơn đều không có yêu cầu áp dụng nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về yêu cầu của đương sự:
Hội đồng xét xử nhận định: Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ đã thu thập được có cơ sở xác định, A cấp thẻ tín dụng cho ông Đỗ Hữu H theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng ký ngày 06/10/2015, Bản các điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng của A và các văn bản khác của ông Đỗ Hữu H ký với A về việc sử dụng thẻ tín dụng. Chi tiết như sau:
- Số thẻ tín dụng: 5593120000011807;
- Ngày cấp: 09/10/2015;
- Loại thẻ: World Mastercard (Thẻ tín dụng quốc tế);
- Hạn mức thẻ: 200.000.000 (Hai trăm triệu) đồng;
- Lãi suất, phí: Theo bản các điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng của A.
Trong quá trình sử dụng thẻ tín dụng, ông Đỗ Hữu H đã không thanh toán đầy đủ cho A theo thông báo giao dịch hàng tháng. Do đó, ngày 20/5/2020, A đã chuyển khoản nợ thẻ của ông Đỗ Hữu H sang nợ quá hạn và chấm dứt sử dụng thẻ. Xét thấy, các thỏa thuận này hoàn toàn tự nguyện, không trái quy định pháp luật nên là căn cứ làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia giao dịch.
Về áp dụng pháp luật: Việc thực hiện giao dịch từ tháng 10/2015 đến tháng 5/2020, xét giao dịch này phù hợp với quy định Bộ luật Dân sự năm 2015 theo Điều 688 Bộ luật Dân sự năm 2015 nên áp dụng quy định Bộ luật này để giải quyết. Khoản 5 Điều 466 quy định “… a) Lãi trên nợ gốc theo lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tương ứng với thời hạn vay mà đến hạn chưa trả; trường hợp chậm trả thì còn phải trả lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này;
b) Lãi trên nợ gốc quá hạn chưa trả bằng 150% lãi suất vay theo hợp đồng tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác”.
Khoản 2 Điều 7 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn “Khi giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng, Tòa án áp dụng quy định của Luật Các tổ chức tín dụng, văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết, hướng dẫn áp dụng Luật Các tổ chức tín dụng để giải quyết mà không áp dụng quy định về giới hạn lãi suất của Bộ luật Dân sự 2005, Bộ luật Dân sự 2015 để xác định lãi, lãi suất”.
Theo Bảng kê tính lãi ngày 16/12/2021 của A, quá trình sử dụng thẻ tín dụng, ông H đã không thanh toán đầy đủ cho A theo Thông báo giao dịch hàng tháng. Ngày 20/5/2020 A đã chuyển toàn bộ nợ còn thiếu sang nợ quá hạn, thông báo chấm dứt sử dụng thẻ và tiến hành các thủ tục thu hồi nợ. Ông H đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán tại (Điều 9, Điều 10) của Bản điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng của ngân hàng. Do vậy, A yêu cầu ông Đỗ Hữu H trả số tiền còn nợ vốn gốc 100.076.746 đồng trước khi chuyển sang tính lãi quá hạn là có căn cứ.
Về tiền lãi: Từ ngày 20/5/2020 đến ngày xét xử 16/12/2021 là 53.894.338 đồng. Căn cứ Khoản 2 Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng thì các tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng. Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng ngày 06/10/2015 được các bên tự nguyện ký kết, các thỏa thuận không trái quy định pháp luật nên là căn cứ làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên. Như vậy, lãi suất được A sử dụng để tính tiền lãi đối với khoản nợ của ông H là có căn cứ để chấp nhận.
Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy có cơ sở để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng A buộc ông Đỗ Hữu H thanh toán số tiền nợ thẻ tín dụng còn thiếu tạm tính đến ngày xét xử 16/12/2021, bao gồm nợ còn thiếu 100.076.746 đồng khi chuyển sang tính lãi quá hạn và tiền lãi quá hạn là 53.894.338 đồng. Tổng cộng 153.971.084 (Một trăm năm mươi ba triệu chín trăm bảy mươi mốt nghìn không trăm tám mươi bốn) đồng.
Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn - Ngân hàng A được chấp nhận nên bị đơn - ông Đỗ Hữu H phải chịu tiền án phí. Ngân hàng A được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Xét ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức phân tích là có căn cứ và đề nghị phù hợp nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Khoản 3 Điều 26; Điểm a Khoản 1 Điều 35; Điểm a Khoản 1 Điều 39; Khoản 1 Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 271; Điều 273 và Điều 280 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
- Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010.
- Điều 463, 466 và Điều 688 Bộ luật dân sự năm 2015.
- Luật phí và lệ phí năm 2015.
- Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao.
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn - Ngân hàng A: Buộc ông Đỗ Hữu H có trách nhiệm trả cho Ngân hàng A số tiền gồm: Tiền nợ còn thiếu 100.076.746 đồng và tiền lãi 53.894.338 đồng. Tổng cộng 153.971.084 (Một trăm năm mươi ba triệu chín trăm bảy mươi mốt nghìn không trăm tám mươi bốn) đồng.
Ông Đỗ Hữu H còn phải tiếp tục thanh toán tiền lãi phát sinh kể từ ngày 17/12/2021 cho đến khi thi hành án xong, theo mức lãi suất đã thỏa thuận trong Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng ngày 06/10/2015 và Bản các điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng A.
2. Về án phí: Án phí dân sự sơ thẩm là 7.698.554 (Bảy triệu sáu trăm chín mươi tám nghìn năm trăm năm mươi bốn) đồng ông Đỗ Hữu H phải chịu, ông H chưa nộp tiền án phí.
Ngân hàng A được nhận lại tiền tạm ứng án phí 2.668.288 (Hai triệu sáu trăm sáu mươi tám nghìn hai trăm tám mươi tám) đồng theo Biên lai thu số AA/2019/0057985 ngày 16/10/2020 do Chi cục Thi hành án dân sự quận Thủ Đức (nay là thành phố Thủ Đức) lập.
3. Về quyền kháng cáo: Ngân hàng A được quyền kháng cáo bản án này đến Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ông Đỗ Hữu H được quyền kháng cáo bản án này đến Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận hoặc niêm yết bản sao bản án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - TAND Tp. HCM; - VKSND Tp. Thủ Đức; - CCTHADS Tp. Thủ Đức; - Lưu VT, hồ sơ. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Quốc Thịnh THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Quốc Thịnh |