vanban.org

Bản án 247/2025/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Căn cứ khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, tuyên bố bị cáo Hồ Thanh S phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Hồ Thanh S 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời gian tù tính từ ngày 19/12/2023. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Căn cứ khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, tuyên bố bị cáo Hồ Thanh S phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 247/2025/HS-ST
Ngày: 25/4/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Minh Vương

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Cửu Long

2. Bà Nguyễn Hương Thủy

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Trí – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Duy - Kiểm sát viên.

Trong ngày 25 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 108/2025/HSST ngày 27/02/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 180/2025/QĐXXST-HS ngày 20/3/2025, đối với bị cáo:

Hồ Thanh S; sinh năm: 1990 tại tỉnh Bạc Liêu; Nơi đăng ký hộ khẩu Thường trú: 12 Võ Thị Sáu, khóm 2, Phường 8, thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu; Nơi ở: 113 đường số 1, khu phố 1, phường Tân Phú, Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: tài xế công nghệ; trình độ văn hoá (học vấn): 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hồ Văn T và bà Nguyễn Thị P; chưa có vợ con.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/12/2023 cho đến nay.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

* Bị hại: Chị Đỗ Thị Thanh N, sinh năm: 2001 (vắng mặt)

Thường trú: 32/13B Trần Thái Tông, Phường 10, thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng.

Nơi ở: D2006 chung cư Jamila Khang Điền, phường Phú Hữu, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1/ Ông Đỗ Văn H, sinh năm 1958 (vắng mặt)

Địa chỉ: 32/13B Trần Thái Tông, Phường 10, thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng.

2/ Hộ kinh doanh cửa hàng D

Địa chỉ: 567 Nguyễn Thị Thập, phường Tân Phong, Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo ủy quyền: Bà Mai Thị T1 (có yêu cầu vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồ Thanh S là tài xế xe ôm công nghệ Gojek. Vào lúc 10 giờ ngày 15/12/2023, S điều khiển xe mô tô nhãn hiệu SYM, loại Enjoy, biển kiểm soát 56P2-6570 chở khách đi từ p phường Tân Phú, Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh đến chung cư Diamon Island thuộc phường Bình Trưng Tây, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh. Trong lúc đợi khách trả tiền thì S phát hiện xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Air Blade, biển kiểm soát 49P3-1359 của chị Đỗ Thị Thanh N (sinh năm 2001) đang đậu cắm sẵn chìa khóa không có người trông coi. Đồng thời bên trong cốp xe còn có 01 túi xách đựng 01 máy tính xách tay nhãn hiệu Suface 15, màu xám, bộ dụng cụ sạc pin đi kèm và một số giấy tờ tùy thân. S bỏ lại xe của mình, lấy trộm xe mô tô của chị N điều khiển xe đi đến đường Nguyễn Đổng Chi, quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh. Tại đây, S kiểm tra tài sản vừa trộm được còn giấy tờ thì vứt bỏ chỉ giữ lại giấy chứng nhận đăng ký xe. S đem máy tính xách tay đến tiệm cầm đồ Tuấn Thịnh do ông Lù Trọng B đang quản lý cầm lấy số tiền 3.500.000 đồng để tiêu xài cá nhân. Ngày 18/12/2023, chị N trình báo sự việc với Công an phường Bình Trưng Tây, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh. Qua truy xét ngày 19/12/2023, Cơ quan điều tra bắt giữ được S và thu giữ tang vật có liên quan. Tại Cơ quan điều tra, Hồ Thanh S thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nêu trên. (Bút lục 107, 108, 117, 118, 121, 122).

Đối với ông Lù Trọng B có nhận cầm cố máy tính xách tay nhãn hiệu Suface 15, màu xám do bị can S đem đến nhưng không biết rõ đây là tài sản do bị can S phạm tội mà có nên không có căn cứ xử lý hành vi “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo quy định Điều 323 Bộ luật Hình sự.

Kết luận định giá tài sản số: 417-KV1/KLĐG-HĐĐGTS, ngày 27/12/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thành phố T kết luận: “Xe mô tô nhãn hiệu Honda Air Blade màu bạc đen có giá trị 9.066.667 và máy tính xách tay nhãn hiệu Suface 15, màu xám kèm bộ sạc pin có giá trị 14.317.000 đồng. Đối với 01 túi xách màu xám dùng đựng máy vi tính xách tay không định giá được”.

Thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật, xử lý vật chứng:

- 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Air Blade, màu đen bạc, biển số 49P3-1359 và giấy chứng nhận đăng ký xe đi kèm của ông Đỗ Văn H giao cho chị Đỗ Thị Thanh N sử dụng và 01 máy tính xách tay nhãn hiệu Suface 15, màu xám kèm bộ sạc pin đựng trong túi xách màu xám của chị N, Cơ quan điều tra đã giao trả tài sản lại cho bị hại.

- 01 điện thoại di dộng nhãn hiệu TCL T507U, 01 túi xách màu xanh có chữ Gojek, 01 mũ bảo hiểm màu xanh, 01 áo thun màu xanh đều có chữ Gojek và 01 mắt kính màu trắng có gọng màu xám là tài sản của S đã trả lại cho S.

- 01 xe mô tô nhãn hiệu SYM, loại Enjoy, biển kiểm soát 56P2-6570;

Trách nhiệm dân sự: Chị Đỗ Thị Thanh N sau khi nhận lại tài sản không yêu cầu bồi thường. Ông Lù Trọng B (cửa hàng D) yêu cầu S bồi thường số tiền 3.500.000 đồng, S chưa bồi thường.

Bản Cáo trạng số 133/CT-VKSTPTĐ ngày 26/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức đã truy tố bị cáo S về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa:

Bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình như trên, bị cáo đồng ý với kết luận định giá, đồng ý với các quyết định tố tụng, hành vi tố tụng của người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng và không khiếu nại hay có ý kiến gì khác.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo S về tội danh, khung hình phạt, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và điều luật áp dụng như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017:

+ Xử phạt bị cáo S từ 01 năm 06 tháng tù đến 01 năm 09 tháng tù.

+ Hình phạt bổ sung: không áp dụng.

Về trách nhiệm dân sự: Hộ kinh doanh cửa hàng dịch vụ cầm đồ Tuấn T2 không tiếp tục yêu cầu bồi thường nên đề nghị không xem xét giải quyết.

Về xử lý vật chứng: đề nghị xử lý theo quy định pháp luật.

Về án phí: Buộc bị cáo chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.

Bị cáo không bào chữa, tranh luận và nói lời sau cùng xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp để tập trung làm ăn, chăm sóc gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thủ tục tố tụng: Bị hại là chị Đỗ Thị Thanh N; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Đỗ Văn H, Hộ kinh doanh cửa hàng dịch vụ cầm đồ Tuấn T2 vắng mặt. Việc vắng mặt của các đương sự nêu trên không gây trở ngại cho việc xét xử nên căn cứ khoản 1 Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự nêu.

Các quyết định tố tụng, hành vi tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật. Quá trình điều tra, truy tố và xét xử tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo phù hợp với với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Vì động cơ vụ lợi bất chính nên vào ngày 15/12/2023, tại chung cư Diamon Island, phường Bình Trưng Tây, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh, Hồ Thanh S có hành vi lén lút lấy trộm 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Air Blade màu bạc đen, biển kiểm soát 49P3-1359 và 01 máy tính xách tay nhãn hiệu Suface 15, màu xám kèm bộ sạc pin có tổng giá trị định giá 23.384.000 đồng của chị Đỗ Thị Thanh N.

Hành vi nêu trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Về tình tiết định khung tăng nặng hình phạt: Không có.

Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự áp dụng đối với bị cáo:

Về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Xét trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được giảm nhẹ một phần hình phạt theo quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội, hình phạt đối với bị cáo: Hội đồng xét xử đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là ít nghiêm trọng. Tuy nhiên, bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý, vì lòng tham nhất thời mà bị cáo xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, làm mất trật tự an toàn xã hội gây tâm lý lo lắng trong quần chúng nhân dân. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải xử phạt bị cáo với mức án tương xứng, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục bị cáo nói riêng và đấu tranh phòng ngừa tội phạm nói chung trong toàn xã hội.

Xét bị cáo không có công việc, thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Về xử lý vật chứng:

Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Air Blade, màu đen bạc, biển số 49P3-1359 và giấy chứng nhận đăng ký xe đi kèm của ông Đỗ Văn H giao cho chị Đỗ Thị Thanh N sử dụng và 01 máy tính xách tay nhãn hiệu Suface 15, màu xám kèm bộ sạc pin đựng trong túi xách màu xám của chị N, Cơ quan điều tra đã giao trả tài sản lại cho bị hại là phù hợp quy định pháp luật.

Đối với 01 điện thoại di dộng nhãn hiệu TCL T507U, 01 túi xách màu xanh có chữ Gojek, 01 mũ bảo hiểm màu xanh, 01 áo thun màu xanh đều có chữ Gojek và 01 mắt kính màu trắng có gọng màu xám là tài sản của S không phải dụng cụ trực tiếp liên quan đến hành vi trộm cắp nên cơ quan điều tra đã trả lại cho S là phù hợp quy định pháp luật.

Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu SYM, loại Enjoy, biển kiểm soát 56P2-6570 theo xác minh do bà Từ Ngọc Y đứng tên chủ sở hữu nhưng đã bán lại xe cho một thanh niên (không rõ lai lịch), không làm thủ tục sang tên. Bị cáo khai nhận xe do bị cáo trộm khi đi nhặt đồng nát. Tuy nhiên theo xác minh của Cơ quan cảnh sát điều tra tại Công an địa phương (Công an phường Tân Định) nơi bị cáo khai nhận lấy trộm không ghi nhận có trình báo vụ trộm liên quan đến chiếc xe nêu trên nên chưa có căn cứ xử lý hình sự đối với Hồ Thanh S liên quan đến hành vi trộm cắp đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu SYM, loại Enjoy, biển kiểm soát 56P2-6570. Hiện nay, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Thành phố H đang lưu giữ. Do đó, cần tiếp tục giao cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố H quản lý, xác minh, điều tra làm rõ, khởi tố vụ án hình sự liên quan đến hành vi trộm cắp chiếc xe nêu trên của Hồ Thanh S nếu có căn cứ và xử lý chiếc xe theo quy định pháp luật.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không có yêu cầu bồi thường nên Hội đồng không xem xét; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là H1 kinh doanh cửa hàng dịch vụ cầm đồ Tuấn T2 do bà Mai Thị T1 có lời khai không tiếp tục yêu cầu bị cáo thực hiện nghĩa vụ bồi thường số tiền 3.500.000 đồng nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Xét đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp thuận.

Về án phí: Buộc bị cáo chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh: Căn cứ khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, tuyên bố bị cáo Hồ Thanh S phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

2. Về hình phạt:

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Hồ Thanh S 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời gian tù tính từ ngày 19/12/2023.

3. Về xử lý vật chứng: Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu SYM, loại Enjoy, biển kiểm soát 56P2-6570 (đã qua sử dụng), tiếp tục giao cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Hồ Chí Minh quản lý, xác minh, điều tra làm rõ, khởi tố vụ án hình sự liên quan đến hành vi trộm cắp chiếc xe nêu trên của Hồ Thanh S nếu có căn cứ và xử lý chiếc xe theo quy định pháp luật.

4. Về án phí:

Áp dụng Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

Buộc bị cáo nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ