vanban.org

Bản án 247/2024/HS-PT — Hình sự

TAND TP Đà Nẵng Tuyên án 26/12/2024 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 26/12/2024 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đàm Quang T, giữ nguyên Bản án sơ thẩm.

Xử phạt: Bị cáo Đàm Quang T 15 (Mười lăm) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt, ngày 26/5/2024. Về án phí: Căn cứ Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đàm Quang T, giữ nguyên Bản án sơ thẩm.
  • Căn cứ chính? Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 247/2024/HS-PT
Ngày: 26/12/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà:Ông Nguyễn Anh Tuấn

Các Thẩm phán:Ông Trần Minh Long

Ông Phan Vĩnh Chuyển

- Thư ký phiên toà: Ông Phan Hồng Lĩnh – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Đãi Em - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 219/2024/TLPT-HS ngày 25 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo Đàm Quang T do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 88/2024/HS-ST ngày 19/9/2024 của Tòa án nhân dân quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng.

Bị cáo kháng cáo: ĐÀM QUANG T, sinh ngày xx/x/19xx tại thành phố Đà Nẵng; nơi ĐKNKTT: Tổ D, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng; chỗ ở: Số C đường C, xã H, huyện H, thành phố Đà Nẵng; nghề nghiệp: Lao động phổ thông; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đàm Quang T1 và bà Nguyễn Thị H; có vợ là Nguyễn Huỳnh Phương T2 (đã ly hôn) và 01 con sinh năm 2009; tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân:

- Năm 2013, bị Công an phường H, quận H xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy.

- Năm 2014, bị Công an phường H, quận H lập hồ sơ quản lý theo Nghị định 111/2013/NĐ-CP về việc áp dụng biện pháp giáo dục tại cấp xã.

- Ngày 18/8/2014, bị Công an phường H, quận H xử phạt vi phạm hành chính 1.500.000 đồng về hành vi Trộm cắp tài sản. (Chưa chấp hành)

- Năm 2014, bị Tòa án nhân dân quận Hải Châu xử phạt 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. (Đã chấp hành xong)

- Ngày 23/02/2016, bị Tòa án nhân dân quận Sơn Trà áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. (Đã chấp hành xong)

- Ngày 17/10/2018, bị Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. (Đã chấp hành xong)

- Ngày 21/9/2020, bị Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. (Đã chấp hành xong)

Bị cáo bị bắt ngày 26/5/2024, hiện đang bị tạm giam, có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 11 giờ ngày 24/5/2024, Đàm Quang T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Atila màu trắng, BKS: 4387-3xxx dạo quanh khu vực đường B, phường K, quận N, thành phố Đà Nẵng tìm thuê mặt bằng để bán dừa. Khi đi ngang căn nhà tại địa chỉ số A đường B, phường K, quận N, T phát hiện trên bàn đá trước sân có 01 túi xách màu đen, có ký hiệu chữ P của ông Võ Văn T3 không có người trông coi nên T dựng xe mô tô gần đó, đi bộ đến lấy trộm chiếc túi xách rồi lên xe mô tô tẩu thoát.

Trên đường đi, T dừng lại kiểm tra túi xách thì phát hiện có 01 ví da màu nâu bên trong có 01 giấy phép lái xe hạng A2; 01 căn cước công dân; 01 cavet xe mô tô BKS: 81F1-09xxx; 01 thẻ ngân hàng V mang tên Võ Văn T3; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 màu đen; 01 hộp đựng kèm tai nghe Bluetooth, nhãn hiệu Airpods 3 màu trắng; 240 USD và 10.000 Won. Nghĩ tiền W không có giá trị nên T đã vứt vào bụi cây ở ven đường (không nhớ vị trí cụ thể). Sau đó, T đến một cửa hàng bán rượu (không nhớ địa chỉ) trên đường T, quận H, thành phố Đà Nẵng, mua 01 chai rượu với giá 20 USD, rồi tiếp tục đi đến một cửa hàng vàng bạc (không nhớ địa chỉ) tại chợ T4 huyện H, thành phố Đà Nẵng bán 200 USD với giá 4.320.000 đồng và đã tiêu xài cá nhân hết, còn 20 USD Trung cất giấu trong người. Các tài sản còn lại T đem về nhà tại địa chỉ số C đường C, xã H, huyện H, thành phố Đà Nẵng cất giấu.

Cùng ngày, ông Võ Văn T3 đã đến Công an phường K, quận N, thành phố Đà Nẵng trình báo sự việc. Đến ngày 26/5/2024, Cơ quan CSĐT Công an quận N, thành phố Đà Nẵng triệu tập Đàm Quang T đến trụ sở làm việc và T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội nêu trên.

Tang vật thu giữ của Đàm Quang T: + 01 xe mô tô hiệu Yamaha Atila, BKS: 4387-3xxx;

+ 01 đôi giày màu trắng, có in hiệu Lacoste; 01 mũ bảo hiểm màu xanh;

+ 01 túi xách màu đen, có ký hiệu chữ P; 01 ví da màu nâu; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 màu đen; 01 hộp đựng kèm tai nghe Bluetooth nhãn hiệu Airpods 3, màu trắng; 02 tờ tiền ngoại tệ mệnh giá 10 USD; 01 GPLX hạng A2, 01 cavet xe mô tô BKS: 81F1-09xxx, 01 CCCD và 01 thẻ ngân hàng V đều mang tên Võ Văn T3.

Ông Võ Văn T3 nộp 01 đĩa DVD có chứa 02 đoạn video ghi nhận diễn biến vụ án trộm cắp tài sản.

Theo Kết luận định giá tài sản số 44/KL-HĐĐGTS ngày 06/6/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận N, thành phố Đà Nẵng, thời điểm định giá tháng 5/2024, kết luận: 01 túi xách màu đen, có ký hiệu chữ P, trị giá 200.000 đồng, 01 ví da màu nâu, đã sờn rách, không còn giá trị; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 màu đen, trị giá 300.000 đồng; 01 hộp đựng kèm tai nghe Bluetooth nhân hiệu Airpods 3, màu trắng, trị giá 1.100.000 đồng. Tổng giá trị tài sản định giá là 1.600.000 đồng.

Tại Công văn số 683/DAN-TH&KSNB ngày 10/6/2024 của Ngân hàng N chi nhánh thành phố Đ xác định:

- 1 USD = 24.264 VND, áp dụng trong ngày 24/5/2024, tương ứng với số tiền 240 USD có giá trị là 5.823.360 VND;

- 1 KRW = 17,77853 VND, áp dụng tính thuế xuất khẩu và thuế nhập khẩu có hiệu lực kể từ ngày 23/5/2024 đến 29/5/2024, tương ứng với số tiền 10.000 KRW có giá trị là 177.785,3 VND.

Tổng giá trị tài sản Đàm Quang T chiếm đoạt là 7.601.145,3 đồng.

Với nội dung trên, tại Bản án hình sự sơ thẩm số 88/2024/HS-ST ngày 19/9/2024 của Tòa án nhân dân quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng đã quyết định:

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đàm Quang T phạm tội “Trộm cắp tài sản”

Về hình phạt: Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Đàm Quang T 15 tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt, ngày 26/5/2024.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về phần trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và thông báo quyền kháng cáo bản án.

Ngày 25/9/2024, bị cáo Đàm Quang T có đơn kháng cáo với nội dung: Xin cấp phúc thẩm xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

- Bị cáo Đàm Quang T giữ nguyên kháng cáo và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng có quan điểm về việc giải quyết vụ án như sau:

Về thủ tục: Đơn kháng cáo của bị cáo Đàm Quang T theo đúng thủ tục và trong thời hạn kháng cáo nên đảm bảo hợp lệ.

Về nội dung: Xét Bản án hình sự sơ thẩm số 88/2024/HS-ST ngày 19/9/2024 của Tòa án nhân dân quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng đã xét xử bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng tội, đúng pháp luật. Khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như đã xem xét về nhân thân của bị cáo, qua đó xử phạt bị cáo 15 tháng tù là phù hợp. Sau khi xử sơ thẩm, bị cáo không có tình tiết giảm nhẹ mới. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên Bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Khoảng 11 giờ ngày 24/5/2024, tại khu vực trước nhà số A đường B, phường K, quận N, thành phố Đà Nẵng, Đàm Quang T đã có hành vi lén lút trộm cắp 01 túi xách màu đen, bên trong có 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 màu đen; 01 hộp đựng kèm tai nghe Bluetooth, nhãn hiệu Airpods 3 màu trắng; 240 USD và 10.000 Won của ông Võ Văn T3. Tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 7.601.145,3 đồng. Vì vậy, Bản án hình sự sơ thẩm số 88/2024/HS-ST ngày 19/9/2024 của Tòa án nhân dân quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng đã xét xử bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét nội dung đơn kháng cáo của bị cáo Đàm Quang T, Hội đồng xét xử thấy rằng: Hành vi phạm tội của bị cáo mặc dù thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nhưng đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an xã hội tại địa phương. Bị cáo có nhân thân rất xấu, đã nhiều lần bị xử phạt hành chính, đưa vào cơ sở cai nghiện, đã từng bị xử phạt tù cũng về hành vi Trộm cắp tài sản, nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học tu dưỡng bản thân mà vẫn tiếp tục thực hiện hành vi Trộm cắp tài sản. Tòa án cấp sơ thẩm khi quyết định hình phạt đã đánh giá đúng tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và xử phạt bị cáo 15 tháng tù là không nặng. Sau khi xét xử sơ thẩm bị cáo không bổ sung tài liệu chứng cứ mới, không có tình tiết giảm nhẹ mới, nên Hội đồng xét xử không có cơ sở giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp.

Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bị cáo Đàm Quang T phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ: Điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đàm Quang T, giữ nguyên Bản án sơ thẩm.

2. Căn cứ: Khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Đàm Quang T 15 (Mười lăm) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt, ngày 26/5/2024.

3. Về án phí: Căn cứ Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo Đàm Quang T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.

4. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ