vanban.org

Bản án 247/2024/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng S, buộc bà Trần Thị A phải trả cho Ngân hàng S số tiền: 36.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 21/08/2022, bản Điều khoản và Điều hiện phát hành và… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Sacombank - Anh Thư"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng S, buộc bà Trần Thị A phải trả cho Ngân hàng S số tiền: 36.
  • Căn cứ chính? Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BÌNH CHÁNH
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
——————————

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 247/2024/DS-ST
Ngày: 17 – 5 – 2024
V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH, TP. HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Dũng

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Trần Thị Nga

Bà Nguyễn Thị Nguyên

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Thanh Bình - Thư ký Toà án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, TP. Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Hiền - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 17 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 41/2024/TLST-DS ngày 15 tháng 1 năm 2024 về Tranh chấp hợp đồng tín dụng theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 128/2024/QĐXXST-DS ngày 25 tháng 3 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 139/2024/QĐST-DS ngày 17 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng S; trụ sở: đường N, Phường V, Quận B, TP. Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Trần Gia T, sinh năm 1971 (Văn bản ủy quyền ngày 19/12/2023) (có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt)

- Bị đơn: Bà Trần Thị A, sinh năm 2002; HKTT: ấp M, xã P, huyện B, TP. Hồ Chí Minh; Chỗ ở: ấp M, xã P, huyện B, TP. Hồ Chí Minh. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Đơn khởi kiện, các bản tự khai, các tài liệu khác trong quá trình tố tụng yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bao gồm:

Ngày 21/08/2022, Bà A có ký với Ngân hàng S (gọi tắt là Ngân hàng) Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng - các tài liệu này được gọi chung là Hợp đồng). Theo đó, Ngân hàng đã phát hành thẻ tín dụng cho bà Trần Thị A với hạn mức tín dụng là: 20.000.000 đồng, loại thẻ: V, mục đích vay: tiêu dùng, lãi suất áp dụng: 2.48%; Từ ngày 21/08/2022, Ngân hàng S đã cấp tín dụng cho bà Trần Thị A 20.000.000 đồng; Sau khi được cấp Thẻ tín dụng, bà A đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 38.987.000 đồng. Lãi được tính trên từng giao dịch phát sinh theo từng ngày và theo lãi suất Ngân hàng áp dụng vào từng thời điểm khác nhau (Điều 24 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng). Bà A phải chịu các khoản phí theo quy định trong Điều 25 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng. Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay, bà A đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 20,820,000 đồng (chi tiết các lần thanh toán trong bảng sao kê tóm tắt đính kèm). Tổng số tiền trên được thanh toán áp dụng theo điều 20 của bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng (bao gồm cả tiền gốc, tiền lãi phát sinh, phí thường niên, phí phát hành thẻ).

Do đó Ngân hàng S khởi kiện: Yêu cầu buộc bà Trần Thị A trả ngay cho Ngân hàng S số tiền (tạm tính đến ngày 17/05/2024) là: 36.155.494 đồng, trong đó gồm có: nợ gốc là 23.404.739 đồng, tiền lãi là 12.750.755 đồng. Đề nghị tiếp tục tính lãi, lãi quá hạn kể từ ngày 18/05/2023 cho đến khi bà Trần Thị A thanh toán xong toàn bộ khoản nợ.

Phía bị đơn bà Trần Thị A đã được Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh thông báo về việc thụ lý vụ án, triệu tập để lấy lời khai, triệu tập để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, triệu tập tham gia phiên tòa nhưng bị đơn vắng mặt, không có văn bản trình bày ý kiến về nội dung vụ án.

Tại phiên tòa:

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn ông Trần Gia T vắng mặt nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt và cung cấp bổ sung Bản tự khai và Tóm tắt sao kê tính đến ngày 17/05/2024.

Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát tham gia phiên tòa:

Về việc chấp hành pháp luật tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án và tại phiên tòa hôm nay, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng quy trình tố tụng giải quyết vụ án. Nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự, bị đơn không thực hiện quyền và nghĩa vụ được quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Căn cứ tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và quá trình tranh tụng tại phiên tòa, Viện kiểm sát nhân dân huyện B nhận thấy có cơ sở để chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn là Ngân hàng S. Về án phí: Bị đơn phải chịu án phí sơ thẩm tính trên số tiền phải thanh toán cho nguyên đơn. Trả lại cho nguyên đơn tiền tạm ứng án phí đã nộp.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về xác định quan hệ tranh chấp và thẩm quyền của Tòa án: Ngân hàng S khởi kiện bà Trần Thị A phải trả nợ gốc và lãi theo Hợp đồng tín dụng đã được ký kết và thực hiện giữa Ngân hàng S và bà Trần Thị A. Bà Trần Thị A cư trú tại huyện B, TP. Hồ Chí Minh. Do đó, căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì đây là tranh chấp hợp đồng tín dụng thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện B.

Về sự có mặt, vắng mặt của các đương sự: Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn ông Trần Gia T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn theo quy định Khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Bà Trần Thị A đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bà Trần Thị A theo quy định tại điểm b Khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung:

Theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 21/08/2022, bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng Thẻ tín dụng của Ngân hàng thì bà Trần Thị A đã đăng ký thẻ tín dụng loại V. Trong quá trình sử dụng thẻ, tại Bản tóm tắt sao kê tài khoản thẻ do phía Ngân hàng cung cấp thì giao dịch phát sinh cuối cùng mà bà Trần Thị A sử dụng là vào ngày 05/11/2022. Bà Trần Thị A bắt đầu ngừng không thanh toán cho Ngân hàng từ kỳ sao kê ngày 05/12/2022. Ngân hàng S bắt đầu tính Phí thanh toán trễ hạn đối với bà Trần Thị A từ ngày 06/03/2024 là phù hợp với thỏa thuận tại Điều 24 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh đã tống đạt thông báo thụ lý, triệu tập bà Trần Thị A đến tham gia tố tụng, tống đạt Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cho bà Trần Thị A nhưng bà Trần Thị A vắng mặt, không phản đối các chứng cứ mà phía Ngân hàng S cung cấp. Do đó, có căn cứ xác định số tiền mà bà Trần Thị A phải trả cho Ngân hàng tính đến ngày 17/5/2024 theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 21/08/2022, bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng Thẻ tín dụng của Ngân hàng số tiền là: 36.155.494 đồng, trong đó: nợ gốc là 23.404.739 đồng, tiền lãi là 12.750.755 đồng.

Án phí: Do yêu cầu của Ngân hàng được chấp nhận nên bà Trần Thị A phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào Khoản 3 Điều 26, điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 227; Điều 235; Điều 266; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ Điều 463, Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015;

- Căn cứ Điều 91 và Điều 95 Luật các Tổ chức tín dụng;

- Căn cứ vào Khoản 3 Điều 24, Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

- Căn cứ Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng S, buộc bà Trần Thị A phải trả cho Ngân hàng S số tiền: 36.155.494 đồng, trong đó gồm có: nợ gốc là 23.404.739 đồng, tiền lãi là 12.750.755 đồng.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 21/08/2022, bản Điều khoản và Điều hiện phát hành và sử dụng Thẻ tín dụng của Ngân hàng S.

2. Về án phí:

Bà Trần Thị A phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 1.807.775 đồng.

Trả lại cho Ngân hàng S số tiền tạm ứng án phí là 793.516 đồng đã nộp theo Biên lai số: 33059 ngày 11/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện B, TP. Hồ Chí Minh.

3. Về quyền kháng cáo: Ngân hàng S, bà Trần Thị A được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án Dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014)./.

Cỡ chữ