- Tranh chấp gì? án hình sự — "Dương Hoàng Thol - phạm tội đe dọa giết người (điều 133 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 133 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 247/2021/HS-PT Ngày: 18-10-2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Minh Châu
Các Thẩm phán:
Ông Vũ Văn Lệ
Ông Bùi Đức Nam
- Thư ký phiên tòa:
Ông Nguyễn Xuân Thắng
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Lê Trung Tuấn - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 10 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 262/2021/TLPT-HS ngày 01 tháng 7 năm 2021 đối với bị cáo Dương Hoàng T, do có kháng cáo của bị cáo Dương Hoàng T đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 96/2021/HS-ST ngày 18/5/2021 của Tòa án nhân dân quận BT, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bị cáo có kháng cáo:
Họ và tên: Dương Hoàng T (tên gọi khác: Không); sinh năm 1984 tại tỉnh Bạc Liêu; hộ khẩu thường trú: Khóm 4 phường H, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu; chỗ ở: Số 21/7/9 đường B, Phường A, quận BT, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: Không biết chữ; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Khơ me; tôn giáo: Đạo phật; giới tính: Nam; con ông Dương P và bà Thạch Thị N (chết); có vợ và 01 con sinh năm 2005; tiền án, tiền sự: Không;
Bị bắt, tạm giam từ ngày 18/12/2020; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 17 giờ ngày 17/12/2020, Dương Hoàng T ngồi nhậu tại phòng trọ số 21/7/9 đường B, Phường A, quận BT. Đến 21 giờ cùng ngày, T đi bộ đến chùa Phước Thành để tìm vợ, trên đường đi T nhặt được 01 con dao dài khoảng 60cm cầm trên tay. Đến khoảng 22 giờ 30 phút, T quay về, chị Lâm Thị T thấy T liền lấy chìa khóa mở cửa, đợi lâu nên T cầm dao đập vào cửa. Chị Dương Thị Ngọc P là em ruột chửi T, T chửi lại. T cầm con dao đi lên lầu thì anh Huỳnh Minh T giật lấy con dao trên tay T cất đi. Sau đó, T tiếp tục xuống nhà đe dọa chị P đòi đốt dãy nhà trọ, chị P thách thức T đốt. Hai bên lời qua tiếng lại, T lấy 01 chai nước suối Aquafina loại 5 lít (không có nước bên trong) ra cây xăng mua 20.000 đồng xăng. T mang xăng về phòng trọ và tiếp tục chửi bới nên chị P đi ra nhắc nhở T. T đi lên lầu 1, chị P đứng ở dưới chân cầu thang, T dọa sẽ đổ xăng đốt chị P, rồi mở nắp chai tạt từ trên xuống làm ướt tóc và người của chị P, T rút bật lửa trong túi quần, đe dọa đốt chị P thì được anh Huỳnh Minh T chạy đến giật lấy chai xăng và bật lửa ra. Sau đó T đi vào phòng, còn chị P điện báo Công an Phường A, quận BT. Tại Bản kết luận giám định số 589/KLGĐ-H ngày 15/01/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh kết luận: Chất lỏng màu vàng chứa trong chai nhựa nhãn hiệu Aquafina dung tích 05 lít bị thu giữ là xăng. Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 96/2021/HS-ST ngày 18/5/2021 của Tòa án nhân dân quận BT đã quyết định: Tuyên bố bị cáo Dương Hoàng T phạm tội “Đe dọa giết người”. Áp dụng khoản 1 Điều 133; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), Xử phạt bị cáo: Dương Hoàng T 01 (một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 18/12/2020. Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
- Ngày 26/5/2021, bị cáo Dương Hoàng T nộp đơn kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt.
- Tại phiên tòa phúc thẩm: + Bị cáo Dương Hoàng T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản án sơ thẩm ghi nhận và giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. + Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm: Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng quy định tại khoản 1 Điều 133 xử phạt Dương Hoàng T 01 năm tù là có căn cứ. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo không cung cấp được thêm tình tiết giảm nhẹ nào mới nên đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm. + Lời nói sau cùng của bị cáo Dương Hoàng T: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận BT. Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân quận BT, Kiểm sát viên; Tòa án nhân dân quận BT, Thẩm phán trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tội danh: Lời khai nhận tội của bị cáo Dương Hoàng T tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Có đủ cơ sở kết luận: Dương Hoàng T đã có hành vi mua xăng về đe dọa đốt dãy phòng trọ và đốt chị Dương Thị Ngọc P. Bị cáo cầm chai xăng mở nắp chai tạt từ trên xuống làm ướt tóc và người chị P, sau đó rút bật lửa từ trong túi quần, đe dọa đốt chị P thì được anh Huỳnh Minh T giật lấy chai xăng và bật lửa kịp thời.
Với hành vi nêu trên, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Dương Hoàng T về tội “Đe dọa giết người” theo quy định tại khoản 1 Điều 133 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ, đúng pháp luật, không oan, sai.
Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo: Quá trình điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, hoàn cảnh gia đình khó khăn, Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) khi xem xét, quyết định hình phạt đối với bị cáo.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo không cung cấp tình tiết giảm nhẹ nào mới để xem xét, Hội đồng xét xử xét thấy mức hình phạt 01 năm tù mà Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo. Do đó, kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo không có cơ sở để chấp nhận.
Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Do kháng cáo của bị cáo không được chấp nhận nên bị cáo Dương Hoàng T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: 1. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Dương Hoàng T. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 96/2021/HS-ST ngày 18/5/2021 của Tòa án nhân dân quận BT như sau: Căn cứ khoản 1 Điều 133; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017): Xử phạt bị cáo: Dương Hoàng T 01 (một) năm tù về tội “Đe dọa giết người”, thời hạn tù tính từ ngày 18/12/2020. 2. Căn cứ Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; khoản 2 Điều 21, khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Dương Hoàng T phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự phúc thẩm. 3. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. 4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tối cao; (1) - TAND cấp cao tại TP.HCM; (1) - VKSND TP.HCM; (3) (2) - TAND quận BT; - VKSND quận BT; (1) - Công an quận BT; (1) - Chi cục THADS quận BT; - P. PC53 - Công an TP.HCM; (1) - Sở Tư pháp; (1) - UBND nơi bị cáo cư trú; (1) - Bị cáo; (2) - Trại giam; (1) - Lưu: VP, THS, hồ sơ (21). (2) (4) | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Minh Châu |