vanban.org

Bản án 247/2020/HC-PT — Hành chính

TAND cấp cao tại TP Hồ Chí Minh Tuyên án 30/06/2020 Hành chính Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 30/06/2020 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/Không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Văn C; giữ nguyên bản án sơ thẩm số 106/2019/HC-ST ngày 22/11/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu.

2/Về án phí phúc thẩm: miễn án phí cho ông Nguyễn Văn C (do đương sự là người lớn tuổi và có đơn xin miễn án phí). Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hành chính — "Ông Nguyễn Văn C kiện UBND huyện XM, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu khiếu kiện quyết định hành chính"
  • Tòa quyết gì? 1/Không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Văn C; giữ nguyên bản án sơ thẩm số 106/2019/HC-ST ngày 22/11/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu.
  • Căn cứ chính? Điều 203 Luật tố tụng Hành chính; Điều 220 Luật tố tụng Hành chính; Điều 241 Luật tố tụng Hành chính
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 247/2020/HC-PT
Ngày: 30/06/ 2020
V/v “Khiếu kiện quyết định hành
chính trong lĩnh vực quản lý đất
đai”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có :

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Phan Thanh Tùng

Các Thẩm phán:

ông Trần Văn Mười

ông Nguyễn Đắc Minh

- Thư ký phiên tòa: ông Thân Văn Nhường, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: ông Đặng Quốc Việt - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 06 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hành chính thụ lý số: 67/2020/TLPT-HC ngày 15/01/2020 về việc “Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai”;

Do bản án hành chính sơ thẩm số 106/2019/HC-ST ngày 22/11/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa–Vũng Tàu bị kháng cáo;

Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 857A/2020/QĐ-PT ngày 18/06/2020 giữa các đương sự:

1/Người khởi kiện:

Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1933 (vắng mặt);

Địa chỉ: ấp Tân An, xã PT, huyện XM, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

Người đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện (văn bản ủy quyền ghi ngày 02/05/2019):

Ông Phan T, sinh năm 1977 (có mặt);

Địa chỉ: 07 Nguyễn Văn Huyên, phường TT, quận TP, Thành phố Hồ Chí Minh.

2/Người bị kiện:

Ủy ban nhân dân huyện XM, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (vắng mặt do có văn bản ghi ngày 04/06/2020 yêu cầu xét xử vắng mặt);

Địa chỉ: 151 quốc lộ 55, thị trấn PB, huyện XM, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị kiện:

Ông Nguyễn Quý T – Phó trưởng phòng Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện XM, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (có mặt);

Ông Phan Hữu T, Giám đốc Trung tâm Phát triển Quỹ đất huyện XM, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (có mặt);

Ông Nguyễn Đình S – Chuyên viên Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện XM, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (vắng mặt);

3/Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Thiên Bình Minh;

Địa chỉ: ấp Hồ Tràm, xã PT, huyện XM, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

Người đại diện hợp pháp của công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Thiên Bình Minh (văn bản ủy quyền ghi ngày 01/11/2019):

Bà Huỳnh Thị Thùy D, sinh năm 1983 (có mặt);

Địa chỉ: 115 Nguyễn Thái Học, phường 7, thành phố VT, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

4/Người kháng cáo:

Ông Nguyễn Văn C, là người khởi kiện.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Vào ngày 28-01-2019, Ủy ban nhân dân (UBND) huyện XM, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu ra quyết định số 327/QĐ-UBND (quyết định số 327/QĐ- UBND) về việc “Phê duyệt kinh phí hỗ trợ đối với đất nông nghiệp của hộ dân sử dụng đất có nguồn gốc nhận khoán trồng dừa thuộc dự án: Khu du lịch Thiên Bình Minh

- Hồ Tràm, theo chủ trương của UBND tỉnh tại Văn bản số 8611/UBND-VP ngày 10-10-2016 cho ông Nguyễn Văn C, địa chỉ: xã PT, để thu hồi đất giao cho Công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH) Thiên Bình Minh đầu tư xây dựng công trình: Khu du lịch Thiên Bình Minh - Hồ Tràm”.

Theo quyết định nói trên, diện tích đất bị thu hồi là 60.706,2m2 có nguồn gốc do ông Nguyễn Văn C (ông C) hợp đồng khoán trồng dừa với công ty Liên hiệp dầu thực vật Đồng Nai năm 1987 tại khu vực 210 ha thuộc ấp Hồ Tràm, xã PT; đất do Nhà nước quản lý. Vì vậy, ông C không được bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất, mà chỉ được hỗ trợ theo giá đất nông nghiệp, là 2.577.777.850 đồng.

Không đồng ý với quyết định nói trên, ông C khởi kiện, yêu cầu Tòa án hủy quyết định số 327/QĐ-UBND.

Trong quá trình giải quyết vụ án, người khởi kiện trình bày lý do của việc khởi kiện, như sau:

Vào năm 1987, gia đình ông C khai phá phần đất để trồng dừa theo chủ trương của Nhà nước. Đến năm 1988, Nhà nước không còn chủ trương trồng dừa nữa, nên ông C trồng hoa màu để sinh sống. Phần đất này thuộc các thửa: 01; 02; 03; 04; 05 và 07 ấp Hồ Tràm, xã PT, huyện XM với diện tích hơn 6ha; khi Nhà nước mở đường đi, đất còn lại 6ha.

Tại phần đất nói trên, gia đình ông C xây dựng nhà để ở và canh tác hoa màu, liên tục từ năm 1987 đến nay. Hiện nay, gia đình ông C gồm có 15 người làm ăn sinh sống tại đây.

Vào năm 2004, UBND tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu ra quyết định số 9917/QĐ-UB ngày 24-11-2004, giao đất cho Công ty TNHH Thiên Bình Minh, không bồi thường hồ trợ về đất mà ông C không biết. Sau nhiều lần khiếu nại, đến ngày 28-01-2019, UBND huyện XM ra quyết định số 327/QĐ-UBND bồi thường 6ha đất với số tiền là 2.577.777.850 đồng.

Ông C không đồng ý bởi vì tổ chức được sử dụng đất của ông C là doanh nghiệp tư nhân, không phải sử dụng đất để phục vụ an ninh quốc phòng hay lợi ích quốc gia, nên việc bồi thường phải do sự thỏa thuận giữa hai bên.

Vào ngày 28-10-2019, ông C có đơn khởi kiện bổ sung, yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng (CNQSD) đất mà Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu đã cấp cho công ty TNHH Thiên Bình Minh vào ngày 31-12-2004 tại thửa số 1,2,3,4,5,6,7 tờ bản đồ số 8, ấp Hồ Tràm, xã PT, huyện XM, với diện tích 72.180m2 và yêu cầu trả lại cho hộ ông C 60.000m2 đất nằm trong tổng diện tích đất 72.180m2.

Người bị kiện là Ủy ban nhân dân huyện XM, tỉnh Bà Rịa -Vũng Tàu trình bày ý kiến như sau:

Phần đất mà các hộ dân (trong đó có hộ ông C) sử dụng là đất có nguồn gốc nhận khoán trồng dừa với công ty Liên hiệp Dầu thực vật Đồng Nai vào năm 1988 tại khu vực quy hoạch trồng dừa 210ha.

Đến năm 1990, công ty Liên hiệp Dầu thực vật Đồng Nai thông báo ngừng đầu tư nhưng các hộ dân vẫn tiếp tục canh tác, sản xuất (trên diện tích đất nhận khoán) cho đến thời điểm thu hồi đất để thực hiện dự án. Những trường hợp này tương tự như trường hợp của các hộ dân Đàm Văn Luân và 03 hộ dân thuộc dự án khu du lịch Hải Thuận khiếu nại bồi thường đất mà Bộ Tài nguyên và Môi trường được Thủ Tướng Chính phủ giao giải quyết và đã có văn bản số 3308/BTNMT-TTR ngày 19-9-2012 hướng dẫn UBND tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu giải quyết các trường hợp khiếu nại vừa nêu.

Trên cơ sở đó, vào ngày 26-12-2012, UBND huyện XM có bản báo cáo số 155/BC-UBND về vướng mắc trong công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và giải phóng mặt bằng 04 dự án du lịch thuộc xã PT, huyện XM, gồm: khu du lịch Thiên Bình Minh, khu du lịch Trung Sơn, khu biệt thự Sài Gòn - Hồ Tràm và khu biệt thự Bình Minh - Hồ Tràm, kiến nghị với UBND tỉnh về chủ trương hỗ trợ một lần giá đất nông nghiệp đối với các hộ dân sử dụng đất có nguồn gốc nhận khoán. Được sự chấp thuận của UBND tỉnh, UBND huyện XM lập dự toán cho các hộ dân thuộc 04 dự án nói trên theo hướng hỗ trợ một lần giá đất nông nghiệp tương ứng vị trí thu hồi đất, giá đất áp dụng theo giá đất của UBND tỉnh ban hành tại thời điểm thu hồi năm 2013.

Căn cứ Luật Đất đai 2013; căn cứ Khoản 3 Điều 10 quyết định số 13/2010/QĐ- UBND ngày 01-4-2010 của UBND tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu quy định việc “Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất do nhận giao khoán đất sử dụng vào mục đích nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản... hộ gia đình cá nhân nhận khoán đang trực tiếp sản xuất nông nghiệp và có nguồn sống chủ yếu từ sản xuất nông nghiệp thì được hỗ trợ bằng tiền. Mức hỗ trợ bằng 50% giá đất theo bảng giá các loại đất UBND tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu ban hành hàng năm, diện tích đất bồi thường theo thực tế thu hồi, nhưng không vượt hạn mức giao đất nông nghiệp tại địa phương”.

Trên cơ sở hướng dẫn của các ngành chuyên môn và của UBND tỉnh, UBND huyện XM đã ban hành các quyết định, gồm có:

-Quyết định 326/QĐ-UBND ngày 28-01-2019 về việc phê duyệt phương án hỗ trợ đối với đất nông nghiệp của hộ dân sử dụng đât có nguồn gốc nhận khoán trồng dừa thuộc dự án: Khu du lịch Thiên Bình Minh - Hồ Tràm, theo chủ trương của UBND tỉnh tại Văn bản số 861/UBND-VP ngày 10-10-2016;

-Quyết định số 327/QĐ-UBND ngày 28-01-2019 về việc phê duyệt kinh phí hỗ trợ đối với đất nông nghiệp của hộ dân sử dụng đất có nguồn gốc nhận khoán trồng dừa thuộc dự án: Khu du lịch Thiên Bình Minh - Hồ Tràm, theo chủ trương của UBND tỉnh tại Văn bản số 861/UBND-VP ngày 10-10-2016 cho ông (bà) Nguyễn Văn C, địa chỉ: xã PT, để thu hồi đất giao cho Công ty TNHH Thiên Bình Minh đầu tư xây dựng công trình: Khu du lịch Thiên Bình Minh - Hồ Tràm.

Cách thức thực hiện nói trên của UBND huyện XM là theo đúng quy định của pháp luật về đất đai và quy định của UBND tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu. Do đó, UBND huyện XM không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông C, đề nghị Tòa án giữ nguyên quyết định số 327/QĐ-UBND.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là công ty TNHH Thiên Bình Minh trình bày ý kiến như sau:

Công ty TNHH Thiên Bình Minh (công ty Thiên Bình Minh) được UBND tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu (UBND tỉnh BR-VT) cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (CNQSDĐ), số AB 234514 ngày 31-12-2004, đối với diện tích 72.180m2 thuộc các thửa 1+2+3+4+5+6+7, tờ bản đồ số 8, xã PT, huyện XM để thực hiện dự án khu du lịch Thiên Bình Minh - Hồ Tràm.

Từ ngày được cấp giấy CNQSDĐ đất cho đến nay, phía gia đình ông C chưa việc giao đất, mặc dù bên cạnh việc Nhà nước hỗ trợ kinh phí khi thu hồi đất, phía Công ty TNHH Thiên Bình Minh cũng đã gặp gỡ, thương lượng việc hỗ trợ thêm nhưng ông C không thực hiện việc bàn giao mặt bằng; hành động này của ông C đã gây thiệt hại rất nhiều cho công ty Thiên Bình Minh.

Vì vậy, công ty Thiên Bình Minh đề nghị Tòa án công nhận tính hợp pháp của quyết định số 327/QĐ-UBND nói trên.

Tại bản án hành chính sơ thẩm số 106/2019/HC-ST ngày 22/11/2019, Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đã quyết định như sau:

-Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn C đòi hủy bỏ quyết định số 327/QĐ-UBND ngày 28-01-2019 của UBND huyện XM, tỉnh Bà Rịa -Vũng Tàu về việc: “Phê duyệt kinh phí hỗ trợ đối với đất nông nghiệp của hộ dân sử dụng đất có nguồn gốc nhận khoán trồng dừa thuộc dự án: Khu du lịch Thiên Bình Minh - Hồ Tràm, theo chủ trương của UBND tỉnh tại văn bản số 8611/UBND-VP ngày 10-10-2016 cho ông Nguyễn Văn C, địa chỉ: xã PT, để thu hồi đất giao cho Công ty trách nhiệm hữu hạn Thiên Bình Minh đầu tư xây dựng công trình: Khu du lịch Thiên Bình Minh - Hồ Tràm”.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí, quyền yêu cầu thi hành án, quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vào ngày 06/12/2019, người khởi kiện là ông C có đơn kháng cáo, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xét xử hủy quyết định số 327/QĐ-UBND ngày 28/01/2019 của UBND huyện XM và yêu cầu Tòa án cấp sơ thẩm thụ lý giải quyết đối với yêu cầu hủy giấy CNQSD đất do Sở Tài nguyên và Môi trường cấp cho Công ty TNHH Thiên Bình Minh vào ngày 31/12/2004.

Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, các đương sự trình bày ý kiến như sau:

-Người kháng cáo là ông C (cũng là người khởi kiện), do ông Phan T làm đại diện, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận kháng cáo, hủy quyết định số 327/QĐ-UBND của UBND huyện XM với lý do như sau: gia đình ông C gồm có 15 người, đang làm nghề đánh cá. Do đó, với số tiền bồi thường là 2.577.777.850 đồng thì không đủ để gia đình có thể sinh sống trong tương lai. Người kháng cáo cũng đề nghị công ty Thiên Bình Minh xem xét hỗ trợ thêm cho gia đình ông C;

-Người bị kiện vắng mặt tại phiên tòa phúc thẩm (do có văn bản ghi ngày 04/06/2020 yêu cầu xét xử vắng mặt) nhưng cho đến khi mở phiên tòa phúc thẩm, đã không có văn bản nào thay đổi các ý kiến đã trình bày trong quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án cấp sơ thẩm;

-Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là công ty Thiên Bình Minh vẫn giữ nguyên các ý kiến nói trên.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị kiện trình bày ý kiến như sau:

-Phần đất có diện tích 60.706,2m2 mà ông C đang khiếu nại, không đồng ý bàn giao cho công ty Thiên Bình Minh, có nguồn gốc là đất do Nhà nước quản lý và Nhà nước đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng hợp pháp cho công ty Thiên Bình Minh vào ngày 31/12/2004 (tổng diện tích cấp cho công ty Thiên Bình Minh là 72.180m2).

Trong thời gian vừa qua, cơ quan Nhà nước có thẩm quyền đã ra quyết định không chấp nhận việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông C; đương sự đã không khiếu nại quyết định này.

Như vậy, về mặt pháp lý, Nhà nước chỉ bồi thường các tài sản mà gia đình ông C có trên phần đất đang khiếu nại, không bồi thường giá trị quyền sử dụng đất bởi vì đương sự không được công nhận quyền sử dụng đất hợp pháp.

Với những ý kiến nói trên, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị kiện yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của ông C, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:

-Về thủ tục tố tụng: đương sự tham gia tố tụng và Tòa án thực hiện đúng pháp luật tố tụng;

-Về nội dung giải quyết vụ án:

Nguồn gốc phần đất có diện tích 60.706,2m2 thuộc các thửa số 1, 2, 3, 4, 5, 7 tờ bản đồ số 8 xã PT, huyện XM mà ông C đang khiếu nại là đất do các hộ dân (trong đó có hộ ông C), nhận khoán trồng dừa với công ty Liên hiệp Dầu thực vật Đồng Nai từ năm 1987-1988 tại khu vực quy hoạch trồng dừa 210ha.

Đến năm 1990, công ty Liên hiệp Dầu thực vật Đồng Nai thông báo ngừng đầu tư, kết thúc hợp đồng nhận khoán trồng dừa nhưng hộ ông C vẫn tiếp tục canh tác, sản xuất trên diện tích đất nhận khoán. Trong thời gian sử dụng đất, hộ ông C không kê khai, đăng ký quyền sử dụng đất.

Đến tháng 10/2003, UBND tỉnh BR-VT ra quyết định số 9791/QĐ-UBND ngày 24/10/2003 thu hồi diện tích đất 72.706,2m2, trong đó có phần đất diện tích 60.706,2m2 mà ông C đang sử dụng, để giao cho công ty Thiên Bình Minh xây dựng khu du lịch Hồ Tràm. Sau đó, công ty Thiên Bình Minh đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào ngày 31/12/2004.

Từ năm 2004 cho đến nay, ông C không bàn giao phần đất đang chiếm hữu, cho công ty Thiên Bình Minh.

Như vậy, việc UBND huyện XM ra quyết định số 327/QĐ-UBND ngày 28/01/2019 về việc: “Phê duyệt kinh phí hỗ trợ đối với đất nông nghiệp của hộ dân sử dụng đất có nguồn gốc nhận khoán trồng dừa thuộc dự án: Khu du lịch Thiên Bình Minh - Hồ Tràm” đối với ông C, là đúng quy định của pháp luật bởi vì ông C chỉ được bồi thường tài sản có trên đất, không được bồi thường giá trị quyền sử dụng đất.

Đối với yêu cầu khởi kiện bổ sung của ông C đòi hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho công ty Thiên Bình Minh, yêu cầu này vượt quá yêu cầu khởi kiện ban đầu của đương sự. Mặt khác, tại quyết định số 1432/QĐ-UBND ngày 31/03/2006, UBND huyện XM đã bác bỏ yêu cầu của ông C đòi được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với phần đất nhận khoán trồng dừa nói trên; quyết định này có hiệu lực pháp luật. Như vậy, yêu cầu khởi kiện bổ sung của ông C là không có căn cứ pháp luật để được chấp nhận.

Với những ý kiến nói trên, đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của ông C, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Vào ngày 28-01-2019, Ủy ban nhân dân (UBND) huyện XM, tỉnh Bà Rịa -Vũng Tàu ra quyết định số 327/QĐ-UBND (quyết định số 327/QĐ-UBND) về việc “Phê duyệt kinh phí hỗ trợ đối với đất nông nghiệp của hộ dân sử dụng đất có nguồn gốc nhận khoán trồng dừa thuộc dự án: Khu du lịch Thiên Bình Minh - Hồ Tràm, theo chủ trương của UBND tỉnh tại Văn bản số 8611/UBND-VP ngày 10-10-2016 cho ông Nguyễn Văn C, địa chỉ: xã PT, để thu hồi đất giao cho Công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH) Thiên Bình Minh đầu tư xây dựng công trình: Khu du lịch Thiên Bình Minh - Hồ Tràm”.

Theo quyết định nói trên, số tiền bồi thường, hỗ trợ và tái định cư cho hộ ông C khi Nhà nước thu hồi phần đất có diện tích 60.706,2m2 tại xã PT, huyện XM (đất do ông C ký hợp đồng nhận khoán trồng dừa với công ty Liên hiệp dầu thực vật Đồng Nai vào năm 1987 tại khu vực 210 ha thuộc ấp Hồ Tràm, xã PT) là 2.577.777.850 đồng; nguồn kinh phí này do công ty Thiên Bình Minh chịu trách nhiệm trả.

Quyết định số 327/QĐ-UBND ngày 28-01-2019 của Ủy ban nhân dân huyện XM, tỉnh Bà Rịa -Vũng Tàu là có căn cứ pháp luật vì những lý do như sau:

-Phần đất có diện tích 60.706,2m2 tại xã PT, huyện XM do ông C ký hợp đồng nhận khoán trồng dừa với công ty Liên hiệp dầu thực vật Đồng Nai vào năm 1987 tại khu vực 210 ha thuộc ấp Hồ Tràm, xã PT.

Theo hợp đồng nhận khoán, công ty Liên hiệp dầu thực vật Đồng Nai là người cung cấp tiền, phân bón….còn ông C là nhận vốn đầu tư, trồng dừa và trả sản phẩm cho công ty.

Đến năm 1990, công ty Liên hiệp dầu thực vật Đồng Nai thông báo ngừng đầu tư, kết thúc hợp đồng nhưng ông C vẫn tiếp tục canh tác, sản xuất trên diện tích đất nhận khoán. Trong thời gian sử dụng đất sau đó, ông C kê khai, đăng ký quyền sử dụng đất;

-Vào ngày 23-07-1993, UBND tỉnh BR-VT ra quyết định số 1056/QĐ-UBT cho phép UBND huyện XM chuyển 210ha đất trồng dừa trước đây, trong đó có phần đất ông C sử dụng, thành đất trồng rừng để phủ xanh đất trồng;

-Vào ngày 24-10-2003, UBND tỉnh BR-VT ra quyết định số 9791/QĐ-UBND thu hồi diện tích đất 72.706,2m2 tại xã PT, trong đó có diện tích đất mà ông C sử dụng nói trên, giao cho công ty Thiên Bình Minh thuê để xây dựng khu du lịch Thiên Bình Minh-Hồ Tràm. Đến ngày 31-12-2004, công ty Thiên Bình Minh đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hợp pháp đối với diện tích đất 72.180m2 tại xã PT, trong đó có diện tích đất mà ông C sử dụng; việc UBND tỉnh BR-VT ra quyết định số 9791/QĐ-UBND ngày 24-10-2003 là đúng quy định của pháp luật đất đai;

-Khoản 3 Điều 10 Quyết định số 13/2010/QĐ- UBND ngày 01-04-2010 của UBND tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu quy định như sau: “Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất do nhận giao khoán đất sử dụng vào mục đích nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản... hộ gia đình cá nhân nhận khoán đang trực tiếp sản xuất nông nghiệp và có nguồn sống chủ yếu từ sản xuất nông nghiệp thì được hỗ trợ bằng tiền. Mức hỗ trợ bằng 50% giá đất theo bảng giá các loại đất UBND tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu ban hành hàng năm, diện tích đất bồi thường theo thực tế thu hồi, nhưng không vượt hạn mức giao đất nông nghiệp tại địa phương”.

Trên cơ sở quyết định nói trên và các quy định của pháp luật đất đai liên quan, UBND huyện XM đã ra quyết định số 327/QĐ-UBND ngày 28-01-2019 về việc phê duyệt kinh phí bồi thường, hỗ trợ và tái định cư đối với đất nông nghiệp của hộ dân sử dụng đất có nguồn gốc nhận khoán trồng dừa thuộc dự án khu du lịch Thiên Bình Minh - Hồ Tràm theo chủ trương của UBND tỉnh BR-VT tại văn bản số 861/UBND-VP ngày 10-10-2016 đối với hộ ông C; tổng số tiền bồi thường, hỗ trợ và tái định cư là 2.577.777.850 đồng do công ty Thiên Bình Minh chịu trách nhiệm trả.

Đối với yêu cầu khởi kiện bổ sung của ông C đòi hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho công ty Thiên Bình Minh vào năm 2004, xét thấy yêu cầu này vượt quá yêu cầu khởi kiện ban đầu của đương sự. Mặt khác, tại quyết định số 1432/QĐ-UBND ngày 31/03/2006, UBND huyện XM đã bác bỏ yêu cầu của ông C đòi được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với phần đất nhận khoán trồng dừa nói trên; quyết định này có hiệu lực pháp luật. Như vậy, yêu cầu khởi kiện bổ sung của ông C là không có căn cứ pháp luật.

Với những tài liệu, chứng cứ phân tích nói trên, việc Tòa án cấp sơ thẩm xét xử không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông C, là có căn cứ pháp luật.

Ông C kháng cáo nhưng không có tài liệu, chứng cứ gì khác, Tòa án cấp phúc thẩm không có căn cứ để chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 203; Điều 220; Điều 241; Điều 242 của Luật tố tụng Hành chính năm 2015;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về Án phí, Lệ phí Tòa án;

1/Không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Văn C; giữ nguyên bản án sơ thẩm số 106/2019/HC-ST ngày 22/11/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu.

2/Về án phí phúc thẩm: miễn án phí cho ông Nguyễn Văn C (do đương sự là người lớn tuổi và có đơn xin miễn án phí).

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ