vanban.org

Bản án 247/2019/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Đồng Tháp Tuyên án 04/10/2019 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 04/10/2019 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Võ Đ cùng đồng phạm phạm tội cưỡng đoạt tài sản - phạm tội cưỡng đoạt tài sản (điều 170 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 170 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 247/2019/HS-PT
Ngày: 04- 10- 2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử ph c thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:

Ông Nguyễn Tuấn Anh.

Các Thẩm phán:

Ông Trương Phước Tự.

Ông Đinh Chí Tâm.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Kim Loan- Thư ký Tòa án nhân dân t nh Đ ng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa:

Bà Lưu Thúy Ái - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 10 năm 2019, tại Trụ sở Tòa án nhân dân t nh Đ ng Tháp mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 190/2019/TLPT-HS ngày 07 tháng 8 năm 2019 đối với các ị cáo Võ Đ, Lê G do có kháng cáo của các ị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 20/2019 H - T ngày 21 tháng 6 năm 2019 của Tòa án nhân dân huyện L, t nh Đ ng Tháp.

- B cáo kháng cáo:

1. Võ Đ, sinh năm 1984 tại t nh Đ ng Tháp; nơi cư trú (HKTT): Ấp X, xã T1, huyện L, t nh Đ ng Tháp; nghề nghiệp: Làm vườn; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ N (đã chết) và bà Nguyễn Đ, sinh năm 1939 (sống); có vợ và có 03 người con; Tiền án, Tiền sự: Không; Tạm giữ: Ngày 21- 7- 2017; Tạm giam: Ngày 30- 7- 2017; Trả tự do tại phiên tòa ngày 30- 3- 2018; ị cáo đang tại ngoại (có mặt tại phiên tòa).

2. Lê G, sinh năm 1990 tại t nh Đ ng Tháp; nơi cư trú (HKTT): Ấp Long A, xã Phú A, huyện N, t nh Đ ng Tháp; nghề nghiệp: Nội trợ; trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê B, sinh năm 1950 (sống) và bà Dương Thị V, sinh năm 1960 (sống); có ch ng và 02 con; tiền án, tiền sự: Không; tạm giữ: Ngày 21- 7- 2017; tạm giam: Ngày 30- 7- 2017; trả tự do tại phiên tòa ngày 30- 3- 2018; ị cáo đang tại ngoại (có mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG V ÁN:

Theo các tài liệu có trong h sơ vụ án và diễn iến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm t t như sau:

Nguyễn Văn T hành nghề chạy xe ôm (xe đò), thường xuyên chở thuê cho ông Ngô Văn T2 nên làm quen với ông T2 và iết ông T2 muốn tìm ạn gái làm quen nên T giới thiệu cho ông T2 làm quen với Lê G là ạn của T1.

Đến khoảng 17 giờ ngày 04- 7- 2017, Nguyễn Văn T đến quán cafe Vũ D thuộc ấp 1, xã Mỹ L1, huyện l, t nh Đ ng Tháp để uống nước cùng với Nguyễn Văn B, Trần Văn L, Võ Đ, Lê G, Bùi Thị Bé B1, tất cả là ạn è quen iết với T. Tại đây, T rủ B, L, Đến, Gấm, Bé Ba tổ chức cho Gấm vào phòng ngh cùng với ông T2 giả vờ án dâm để vào đánh ghen quay phim lại để tống T ông T2 thì tất cả đ ng ý. Lúc này, Nguyễn Văn B phân công nhiệm vụ cụ thể:

- Nguyễn Văn T có nhiệm vụ chở ông T2 và Gấm đến phòng trọ để G giả vờ án dâm cho ông T2.

- Lê G khi vào phòng với ông T2 thì gài chốt cửa hờ, cởi quần áo ngoài (còn đ lót ên trong), nằm trên giường với ông T2, sau đó nh n tin cho Đ cùng đ ng ọn vào đánh ghen.

- Võ Đ đóng giả làm ch ng của G vào phòng đánh vào mặt G một cái, đ ng thời chửi thề nói lớn tiếng như đang đánh ghen.

- Bùi Thị B1 được phân công vai là vợ của B và là chị của G có nhiệm vụ vào can ngăn không cho Đ tiếp tục đánh G và nói “Ch ng em thương em cỡ nào em iết không?” và lấy điện T2 của ông T2 cất giấu không cho ông T2 gọi về nhà hay báo Công an.

- Trần Văn L thì dùng điện T2 quay phim lại toàn ộ sự việc đánh ghen.

- Nguyễn Văn B đóng vai làm ch ng của B1.

au khi àn ạc thống nhất với nhau thì tất cả ra về.

Đến khoảng 19 giờ ngày 08- 7- 2017, tất cả hẹn và gặp nhau tại quán cà phê Điểm H để chuẩn ị thực hiện hành vi theo kế hoạch đã s p đặt. Lúc này, T điều khiển xe iển số 66P1- 750.8XX đến nhà ông T2, chở ông T2 đến phòng trọ số 02 của nhà trọ Lê N1 thuộc ấp X, xã H, huyện L r i quay lại chở G đến gặp ông T2 và thông báo cho những người trong nhóm iết số phòng của G và ông T2 đã vào.

Đến khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày, B điều khiển xe mô tô iển số 55Y7- 8359 chở B1, Đ thì điều khiển xe mô tô iển số 66P1- 814.XX chở L đến Nhà trọ nhưng đứng ên ngoài chờ G ra tín hiệu để vào. Đúng như kế hoạch, G vào phòng cởi quần áo ngoài, khi thấy ông T2 cởi hết quần áo thì G dùng số điện T2 09380800XXX nh n tin vào số điện T2 01695179XXX của Đ kêu vào đi, Đ đập cửa phòng vào trước, B, L, B1 lần lượt vào sau. Khi vào phòng thấy G ch mặc quần áo lót, còn ông T2 thì không mặc gì đang cùng nằm trên giường, Đ liền giả vờ chửi thề lớn tiếng r i tát vào mặt G 01 cái và nói nhiều câu lớn tiếng, B1 can ngăn Đ không cho đánh G nữa và nói “Ch ng em thương em cỡ nào em iết không?”, L thì dùng điện T2 hiệu OPPO của B1 và điện T2 Samsung SM-G530H màu tr ng của L để quay Video Clip, B cũng dùng điện thoại Iphone 4 của B quay Video Clip. Trong lúc L và B quay phim, B1 thấy điện thoại Nokia 1280 trị giá 150.000 đ ng của ông T2 đang để trên giường nên lấy cất vào trong túi. Sau khi quay Video Clip xong, B1 đưa áo cho G và ông T2 mặc vào. Lúc này, B dùng tay móc túi áo và túi quần của ông T2 lấy được số T 400.000 đ ng r i đưa cho B1 cất giữ thì anh Lê Quang C là chủ nhà trọ đến can ngăn và áo Công an xã đến giải quyết thì cả nhóm rời khỏi hiện trường r i cùng đến quán cafe bà N2 gần cầu Sông N3 thuộc xã L1, huyện L. Tại đây, G cầm 400.000 đ ng chiếm đoạt được của ông T2 chia cho B 100.000 đ ng, B1 250.000 đ ng (B1 cất giữ 70.000 đ ng, đưa lại cho L 180.000 đ ng cùng 01 điện thoại của ông T2), L đưa cho T số T 80.000 đ ng cùng với chiếc điện thoại của ông T2.

Trong khoảng thời gian từ ngày 12 tháng 7 đến ngày 21- 7- 2017, T, B, L dùng Clip đã quay được tiếp tục điện thoại gặp trực tiếp ông T2 đe dọa sẽ đưa đoạn Clip quay được lên mạng để uộc ông T2 đưa 3.000.000 đ ng, nhưng do không có đủ T nên ông T2 ch đưa trước cho L số T 200.000 đ ng, đưa cho T số T 900.000 đ ng. L, T lấy tiêu xài cá nhân hết.

Đến ngày 21- 7- 2017, L đến nhà ông T2 tiếp tục nhận số T 1.500.000 đ ng thì ị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L t quả tang, thu giữ vật chứng g m: 01 điện thoại di động hiệu amsung M-G530H, màu tr ng, sim số 016325411XXX; 01 xe mô tô iển số 66L5- XXXX hiệu Untimo, màu tr ng h ng của L; 01 xe mô tô hiệu Wand iển số 66H6- 9XXX, 01 điện thoại di động Nokia 1280 màu xám đen, sim số 01683XXX17XX của T; 01 điện thoại di động Samsung J2 Prime, màu h ng, sim số 093808XXX của G; 01 điện thoại di động OPPo F1s, màu h ng của B1; 01 điện thoại di động Masstel A116, màu đỏ đen, sim số 0169XXX79141, 01 điện thoại di động amsung M- C1313HZ, màu đen của Đ.

Ngày 19- 9- 2017, Hội đ ng định giá trong tố tụng hình sự Công an huyện L tiến hành định giá chiếc điện thoại di động hiệu Nokia 1280 màu đen xám chiếm đoạt được của ông T2 trị giá 150.000 đ ng.

Trong quá trình điều tra, ông Ngô Văn T2 yêu cầu L, T, B1, G, Đ, B hoàn trả lại số tiền đã chiếm đoạt là 3.000.000 đ ng và điện thoại Nokia 1280 màu đen. Các ị cáo đã hoàn trả cho ông T2 được số tiền là 600.000 đ ng cộng với số tiền thu giữ trong ngày t quả tang là 1.500.000 đ ng. Hiện Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện l đã trao trả cho ông T2 số T 2.100.000 đ ng cùng điện thoại di động Nokia 1280 màu đen, ông T2 tiếp tục yêu cầu trả lại số tiền 900.000 đ ng mà T đã chiếm đoạt tiêu xài cá nhân. Bị cáo Đ đã i thường thay cho T số tiền 500.000 đ ng theo Biên lai số 001972 ngày 15- 3- 2018 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện l.

Đối với các điện thoại di động hiệu amsung M- G1313HZ màu đen của Đến không liên quan đến hành vi phạm tội, điện thoại amsung J2 prime màu h ng của G mượn của anh Phạm L2, xe mô tô iển số 66L5- XXXX do L mượn của chị Võ Thị T3, xe mô tô iển số 66H6- XXXX do T mượn của chị ruột Nguyễn Thị TT4 hiện Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã trả vật chứng trên xong.

Tại Bản án số 20 2019 H - T ngày 21- 6- 2019 của Tòa án nhân dân huyện L, t nh Đ ng Tháp đã quyết định:

Tuyên ố các ị cáo Võ Đ, Lê G cùng phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản”.

Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 170; Điều 17; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm i khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự:

Xử phạt ị cáo Võ Đ 03 ( a) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày ị cáo chấp hành án, nhưng được trừ thời gian ị tạm giữ, tạm giam từ ngày 21- 7- 2017 đến ngày 30- 3-2018.

Xử phạt ị cáo Lê G 03 ( a) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày chấp hành án, nhưng được trừ thời gian ị tạm giữ, tạm giam từ ngày 21- 7- 2017 đến ngày 30- 3-2018.

2. Về hình phạt ổ sung: Không áp dụng hình phạt ổ sung đối với ị cáo Võ Đ và Lê G.

Ngoài ra, ản án sơ thẩm còn tuyên về án phí và nêu quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 21 tháng 6 năm 2019, các b cáo Võ Đ, Lê G có đ n kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm, các ị cáo Võ Đ, Lê G thừa nhận hành vi vi phạm, thừa nhận việc Tòa án cấp sơ thẩm kết án các ị cáo tội “Cưỡng đoạt tài sản” theo điểm a khoản 2 Điều 170 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, không oan sai nhưng các ị cáo thấy mức án mà Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng cho các ị cáo là nặng nên các ị cáo làm đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo, vì hiện nay ị cáo Đ và ị cáo G đã là vợ ch ng đang nuôi con còn nhỏ dưới 36 tháng tuổi, các ị cáo có hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn, ị cáo Đ là lao động chính trong gia đình.

Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân t nh Đ ng Tháp phát iểu quan điểm cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm xét xử các ị cáo về tội “Cưỡng đoạt tài sản” theo điểm a khoản 2 Điều 170 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật. Hành vi của các ị cáo là nguy hiểm cho xã hội, phạm tội có tổ chức, trong đó vai trò của các ị cáo là quan trọng, mang tính chất quyết định cho việc cấu thành tội phạm, hành vi các ị cáo đã xâm phạm quyền sở hữu của người khác trái pháp luật, gây mất trật tự trị an tại địa phương, nên mức hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng đối với các ị cáo là phù hợp, đủ sức răn đe, phòng ngừa và giáo dục ị cáo. Vì vậy, đề nghị Hội đ ng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của các ị cáo Đ và G, giữ nguyên quyết định của ản án sơ thẩm về hình phạt đối với các ị cáo.

Tại phần tranh luận, các ị cáo Võ Đ, Lê G không tranh luận. Tại nói sau cùng, các ị cáo xin Hội đ ng xét xử phúc thẩm giảm nhẹ hình phạt, cho các ị cáo được hưởng án treo để có điều kiện nuôi nấng, dạy dỗ cho con.

NHẬN Đ NH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong h sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đ ng xét xử phúc thẩm nhận định như sau:

[1] Xét Bản án hình sự sơ thẩm số 20 2019 H -ST ngày 21- 6- 2019 của Tòa án nhân dân huyện L, t nh Đ ng Tháp xét xử các ị cáo Võ Đ, Lê G về tội “Cưỡng đoạt tài sản” theo điểm a khoản 2 Điều 170 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[2] Trong vụ án này, các ị cáo Võ Đ, Lê G cùng với Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn B, Trần Văn L, Bùi Thị B1 đã cùng àn ạc, phân công vai trò để thực hiện hành vi tạo cớ, đe dọa nhằm chiếm đoạt tài sản của ị hại Ngô Văn T2. Trong đó Nguyễn Văn T thực hiện vai trò chủ mưu, rủ rê, lôi kéo Đ, G và những người khác cùng thực hiện tội phạm, Nguyễn Văn B “đạo diễn” phân công vai trò cho từng người, trong đó ị cáo Lê G giữ vai trò thực hành chính, G chính là mục tiêu để thu hút ông T2, G có nhiệm vụ khi vào phòng thì gài chốt cửa hờ, cởi quần áo ngoài, nằm trên giường với ông T2, sau đó nh n tin cho những người khác vào phòng dàn cảnh quả tang. Như vậy, nếu không có vai trò của G thì tội phạm không thực hiện được, Võ Đ đóng vai làm ch ng của G vào đánh gen để uy hiếp ông T2, vai trò của Đ cũng là vai trò thực hành và rất quan trọng, ởi vì nếu không có vai trò làm ch ng của Đ thì sự việc tạo cớ đánh gen sẽ không diễn ra, vai trò của L là thực hành thể hiện ằng việc quay phim toàn ộ vụ việc để làm chứng cứ đe dọa chiếm đoạt tài sản của ông T2, B1 đóng vai vợ của B và là chị của G góp phần cho việc đánh gen diễn ra như thật. Như vậy, đủ cơ sở để xác định hành vi phạm tội của các ị cáo là phạm tội có tổ chức, tuy Võ Đ và Lê G giữ vai trò thực hành nhưng đây là vai trò rất quan trọng, không phải là vai trò thứ yếu, đ ng thời các ị cáo phạm tội đối với ông T2 là người trên 70 tuổi, đây là tình tiết tăng nặng mà các ị cáo phải chịu trách nhiệm. Vì vậy, mặc dù các ị cáo Võ Đ, Lê G có 02 tình tiết giảm nhẹ ở khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự và có tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự nhưng các ị cáo cũng có tình tiết tăng nặng theo điểm i khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự và xét tính chất. mức độ hành vi phạm tội của các ị cáo, hậu quả tội phạm gây ra, thì việc Tòa án cấp sơ thẩm xét xử các ị cáo mức án mỗi ị cáo 03 năm tù là phù hợp. Xét kháng cáo của ị cáo Võ Đ xin giảm nhẹ hình phạt, xin hưởng án treo với lý do gia đình ị cáo có công với nước, ị cáo là lao động chính, kháng cáo của ị cáo Lê G xin hưởng án treo do nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi, hoàn cảnh gia đình khó khăn, Hội đ ng xét xử thấy rằng các tình tiết giảm nhẹ này Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét cho các ị cáo. Ngoài ra, ở cấp phúc thẩm, ị hại là ông Ngô Văn T2 có xác nhận đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho các ị cáo nhưng xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các ị cáo thì mức án mà Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng cho các ị cáo là phù hợp nên không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên quyết định của ản án sơ thẩm.

[3] Xét thấy phát iểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa phúc thẩm là có căn cứ chấp nhận.

[4] Do kháng cáo của các ị cáo Võ Đ, Lê G không được chấp nhận nên các ị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[5] Các phần khác của quyết định ản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT Đ NH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự.

Không chấp nhận kháng cáo của các ị cáo Võ Đ, Lê G.

Giữ nguyên quyết định của Bản án hình sự sơ thẩm số 20/2019/HS-ST ngày 21 tháng 6 năm 2019 của Tòa án nhân dân huyện L, t nh Đ ng Tháp về phần hình phạt đối với các ị cáo Võ Đ, Lê Thị G.

Tuyên ố các ị cáo Võ Đ, Lê Thị G phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản”.

Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 170; Điều 17; điểm , s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm i khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Võ Đ 03 (ba) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày ị cáo chấp hành án, nhưng được trừ thời gian ị tạm giữ, tạm giam từ ngày 21- 7- 2017 đến ngày 30- 3- 2018.

Xử phạt bị cáo Lê G 03 (ba) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày ị cáo chấp hành án, nhưng được trừ thời gian ị tạm giữ, tạm giam từ ngày 21- 7- 2017 đến ngày 30- 3- 2018.

Về hình phạt ổ sung: Không áp dụng hình phạt ổ sung đối với ị cáo Võ Đ và ị cáo Lê G.

Về án phí:

Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326 2016 UBTVQH14 ngày 30- 02- 2016 của Ủy an Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Các bị cáo Võ Đ, Lê G mỗi ị cáo phải chịu 200.000 đ ng án phí hình sự phúc thẩm.

Các phần khác của quyết định ản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ