vanban.org

Bản án 2462/2024/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

TAND Q. Bình Thạnh, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 28/11/2024 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng vào khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 3 Điều 238, Điều 271, khoản 1 Điều 273, Điều 278 và Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị N.D 1 Buộc ông Nguyễn T.N trả cho bà Nguyễn Thị N.D số tiền 1.108.000.000 đồng, trả làm một lần ngay sau khi bản án đã có hiệu lực pháp luật. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Bà Nguyễn Thị N.D và ông Nguyễn T.N"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng vào khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 3 Điều 238, Điều 271, khoản 1 Điều 273, Điều 278 và Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
  • Căn cứ chính? Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 466 Bộ luật Dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN BÌNH THẠNH
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 2462/2024/DS-ST
Ngày: 28/11/2024
V/v: “Tranh chấp hợp đồng
vay tài sản và đòi lại tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Ngọc Yến

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Nhơn

2. Bà Lâm Thị Hoàng Oanh

Thư ký phiên tòa: Bà Võ Hải An – Thư ký Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Minh Huyền - Kiểm sát viên.

Vào các ngày 08 tháng 11 năm 2024 và ngày 28 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận Bình Thạnh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 1533/2024/TLST-DS ngày 25 tháng 7 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 804/2024/QĐXXST – DS ngày 9 tháng 10 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 684/2024/QĐST – DS ngày 8 tháng 11 năm 2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị N.D

Địa chỉ: 123 đường x, phường y, quận z, TP.HCM

Bị đơn: Ông Nguyễn T.N

Địa chỉ: L5 – 29.12B, T29 Vinhomes Central Park, 720A Điện Biên Phủ, Phường 22, quận Bình Thạnh, TP.HCM.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và các biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hoà giải do nguyên đơn là bà Nguyễn Thị N.D trình bày:

Vào cuối tháng 2 năm 2022, bị đơn có đề nghị nguyên đơn mua chung đất ở Khánh Hòa nhưng nguyên đơn không đồng ý. Sau đó, bị đơn đề nghị nguyên đơn cho bị đơn vay, thời hạn vay từ tháng 3/2022 đến tháng 9/2022; lãi suất là 5%/tháng. Và trong thời hạn vay nếu bị đơn bán được đất thì chia lợi nhuận cho nguyên đơn theo tỷ lệ phần nếu lợi nhuận bán đất nhiều hơn tiền lãi; trong trường hợp này sẽ cấn trừ tiền lãi mà bị đơn đã trả cho nguyên đơn, phần lợi nhuận còn lại, bị đơn sẽ thanh toán cùng tiền vay gốc cho nguyên đơn. Trong trường hợp, lợi nhuận tiền bán đất ít hơn hoặc bằng tiền lãi thì bị đơn chấp nhận số tiền lãi đã trả cho nguyên đơn. Vì là chỗ bạn bè thân quen nên nguyên đơn đồng ý cho bị đơn vay với tổng số tiền là 1.150.000.000 đồng (Một tỷ một trăm năm mươi triệu đồng) từ ngày 05/03/2022 cho đến ngày 30/4/2022. Cụ thể:

- Ngày 05/3/2022, cho vay 150.000.000đ (Tiền mặt theo giấy biên nhận)

- Ngày 08/4/2022, cho vay 500.000.000 đồng (hai lần chuyển tiền qua tài khoản)

- Ngày 14/4/2022, cho vay 200.000.000 đồng (chuyển tiền qua tài khoản)

- Ngày 30/4/2022, cho vay 300.000.000 đồng (chuyển tiền qua tài khoản)

Trong quá trình vay tiền, bị đơn đã trả lãi cho nguyên đơn với số tiền là: 42.000.000 đồng. Tuy nhiên, đến hạn trả nợ, bị đơn không thực hiện trả nợ cho nguyên đơn. Nguyên đơn đã nhiều lần yêu cầu trả nợ nhưng không có kết quả và biết được bị đơn đang khó khăn nên nguyên đơn đồng ý chuyển số tiền lãi 42.000.000 đồng thành tiền gốc.

Nay nguyên đơn làm đơn này yêu cầu đề nghị Tòa án xem xét giải quyết buộc ông Nguyễn T.N trả nợ cho nguyên đơn với số tiền 1.108.000.000 đồng (Một tỷ một trăm lẻ tám triệu đồng) làm một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, nguyên đơn không yêu cầu tính lãi với số tiền này.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt, niêm yết thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập, thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải để các đương sự tự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án, nhưng phía bị đơn vắng mặt không lý do, không có ý kiến phản hồi nên Tòa án đưa vụ án ra xét xử.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh phát biểu ý kiến về việc tuân theo Pháp luật Tố tụng trong quá trình giải quyết của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng như sau:

Về việc tuân theo Pháp luật Tố tụng trong quá trình giải quyết của Thẩm phán: Vụ án được thụ lý đúng thẩm quyền. Các phần còn lại Thẩm phán đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về việc tuân theo Pháp luật Tố tụng của Hội đồng xét xử: Thời gian, địa điểm mở phiên Tòa đúng theo quyết định đưa vụ án ra xét xử. Quá trình xét xử, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định tại các Điều 70, Điều 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn chấp hành chưa đầy đủ quy định tại các Điều 70, Điều 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: căn cứ những chứng cứ trong hồ sơ vụ án, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

- Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Bị đơn có cư ngụ tại quận Bình Thạnh, TP.HCM nên căn cứ khoản 1 Điều 35, điểm a, khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, TP.HCM.

Quan hệ tranh chấp giữa nguyên đơn và bị đơn là tranh chấp hợp đồng vay tài sản và đòi lại tài sản. Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 đây là loại vụ việc tranh chấp về hợp đồng dân sự.

Về thủ tục tố tụng:

Nguyên đơn có đơn xin vắng mặt, bị đơn đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vắng mặt không lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đương sự theo quy định tại Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

- Về nội dung vụ án:

Tòa án đã tiến hành triệu tập hợp lệ bị đơn đến trụ sở Tòa án để giải quyết vụ án, nhưng bị đơn đều vắng mặt không lý do, không có ý kiến phản hồi. Do đó, Hội đồng xét xử lấy yêu cầu khởi kiện và các tài liệu chứng cứ của nguyên đơn cung cấp để xem xét, giải quyết vụ án.

+ Đối với yêu cầu bị đơn thanh toán số tiền 1.108.000.000 đồng, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Ngày 05/3/2022, bị đơn và nguyên đơn có ký giấy biên nhận với nội dung: bị đơn có nhận của nguyên đơn số tiền là 150.000.000 đồng. Bị đơn cam đoan ngày 05/9/2022 sẽ hoàn trả lại số tiền trên cho nguyên đơn. Đã quá thời hạn 05/9/2022 nhưng bị đơn vẫn chưa trả lại số tiền trên cho nguyên đơn nên Hội đồng xét xử nhận thấy: bị đơn còn nợ nguyên đơn số tiền là 150.000.000 đồng.

Căn cứ công văn số 189/2024/TCB-LVB ngày 20/9/2024 và công văn số 209/2024/ TCB-LVB ngày 02/10/2024 của Ngân hàng TMCP Kỹ thương Việt Nam cung cấp:

+ Số tài khoản 19035534149025 được mở tại Ngân hàng TMCP Kỹ thương Việt Nam và chủ tài khoản là ông Nguyễn T.N, thường trú tại L5 – 29.12B, T29 Vinhomes Central Park, 720A Điện Biên Phủ, Phường 22, quận Bình Thạnh, TP.HCM

+ Số tài khoản 19035534149025 có nhận được chuyển khoản từ số xxxxxxxxxxxx – Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam của bà Nguyễn Thị N.D vào các ngày và số tiền như sau:

Ngày 08/4/2022: nhận được 400.000.000 đồng

Ngày 08/4/2022: nhận được 100.000.000 đồng

Ngày 14/4/2022: nhận được 200.000.000 đồng

Ngày 30/4/2022: nhận được 300.000.000 đồng.

Như vậy có căn cứ xác định nguyên đơn đã chuyển khoản cho bị đơn số tiền 1.000.000.000 (một tỷ) đồng.

Tổng cộng số tiền bị đơn đã nhận của nguyên đơn (theo giấy biên nhận và những lần chuyển khoản) là 1.150.000.000 đồng.

Căn cứ vào công văn số189/2024/TCB-LVB ngày 20/9/2024 của Ngân hàng TMCP Kỹ thương Việt Nam thì bị đơn có chuyển vào số tài khoản của nguyên đơn số tiền 42.000.000 đồng và nguyên đơn cũng xác nhận bị đơn có chuyển vào tài khoản của nguyên đơn 42.000.000 đồng. Như vậy, tính đến thời điểm hôm nay, Hội đồng xét xử nhận thấy, bị đơn vẫn còn giữ của nguyên đơn số tiền 1.108.000.000 đồng.

Căn cứ khoản 1 Điều 466 BLDS 2015: “Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn; nếu tài sản là vật thì trả vật cùng loại đúng số lượng, chất lượng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác”.

Khoản 1 Điều 166 BLDS 2015: Chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản có quyền đòi lại tài sản từ người chiếm hữu, người sử dụng tài sản, người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật.

Do đó, việc nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải trả lại cho nguyên đơn số tiền là 1.108.000.000 đồng là có căn cứ chấp nhận.

+ Đối với yêu cầu bị đơn trả làm một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật: Hội đồng xét xử nhận thấy: bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ mặc dù nguyên đơn đã nhắc nhở nhiều lần đối với bị đơn. Việc vi phạm của bị đơn trong một thời gian dài làm ảnh hưởng đến quyền lợi của nguyên đơn. Do vậy, nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán toàn bộ số tiền ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật là có căn cứ chấp nhận.

+ Về việc rút một phần khởi kiện của nguyên đơn:

Xét tại đơn giải trình và đề nghị ngày 21/11/2024, nguyên đơn chỉ yêu cầu bị đơn trả lại số tiền 1.108.000.000 đồng và không yêu cầu tính lãi đối với số tiền này, Hội đồng xét xử chấp nhận và đình chỉ xét xử đối với yêu cầu này.

- Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án dân sự sơ theo quy định Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 về quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Hoàn trả cho nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

- Áp dụng vào khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 3 Điều 238, Điều 271, khoản 1 Điều 273, Điều 278 và Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

- Áp dụng các Điều 166, Điều Điều 463, Điều 466, Điều 468 và Điều 688 của Bộ luật dân sự năm 2015;

- Áp dụng Luật Thi hành án dân sự;

- Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức và thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;

Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị N.D

1.1 Buộc ông Nguyễn T.N trả cho bà Nguyễn Thị N.D số tiền 1.108.000.000 đồng, trả làm một lần ngay sau khi bản án đã có hiệu lực pháp luật.

1.2 Đình chỉ khởi kiện của bà Nguyễn Thị N.D về việc yêu cầu ông Nguyễn T.N trả tiền lãi đối với số tiền 1.108.000.000 đồng.

1.3 Thi hành tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.

1.4 Kể từ khi nguyên đơn có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bị đơn chưa thi hành số tiền nêu trên thì bị đơn còn phải trả cho nguyên đơn tiền lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả, lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm: là 45.240.000 đồng ông Nguyễn T.N phải nộp. Hoàn trả cho bà Nguyễn Thị N.D số tiền tạm ứng án phí là 29.779.000 đồng đã tạm nộp theo biên lai thu số 0028820 ngày 24/7/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Bình Thạnh, TP.HCM.

3. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

4. Về quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.

Cỡ chữ