- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trương Gia H - trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tố tụng hình sự năm 2015;
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật hình sự giảm nhẹ hình phạt; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 246/2026/HS-PT Ngày: 16/4/2026. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Thanh Lâm.
Các Thẩm phán:
1. Ông Ngô Ngọc Thắng
2. Ông Đặng Hồng Sơn
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tâm - Thư ký Tòa án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên
tòa: Bà Phạm Thị Thu Hằng - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 4 năm 2026, tại điểm cầu trung tâm trụ sở Tòa án nhân dân
Thành phố Hồ Chí Minh và điểm cầu thành phần trụ sở Tòa án nhân dân Khu
vực A, Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử công khai trực tuyến vụ án hình sự phúc
thẩm thụ lý số: 140/2026/TLPT-HS ngày 03/3/2026 đối với bị cáo Trương Gia
H do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 55/2026/HS-ST
ngày 27/01/2026 của Tòa án nhân dân Khu vực A, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bị cáo có kháng cáo:
Họ và tên: Trương Gia H; Sinh năm 2006; tại tỉnh TH; Thường trú: Số
TDP Linh T, xã C, tỉnh T; Nghề nghiệp: Bốc xếp; Giới tính: Nam; Dân tộc:
Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Trình độ văn hóa: 12/12; Con ông
Trương Văn N và bà Trương Thị T; Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự:
Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/8/2025 (có mặt tại điểm cầu
thành phần).
Người bào chữa: Luật sư Chu Văn H, Văn phòng Luật sư T, Đoàn Luật sư
Thành phố Hồ Chí Minh.
Địa chỉ: số 3 Nguyễn Công T, phường B, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt
tại điểm cầu trung tâm).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 07 giờ 00 phút ngày 24/8/2025, nhóm chuyển nhà của Trương
Gia H, Đặng Minh T, Trần Hồng P, Tường Công T1 nhận chuyển nhà của chị Đặng Thị Sơn T2 (sinh năm 1994) từ địa chỉ nhà của chị T2: 4 Thiên Hộ D, phường Hạnh T, Thành phố Hồ Chí Minh tới 2 đường Trần Quý C, phường Thạnh Mỹ T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Trong quá trình làm việc tại nhà số 4 Thiên Hộ D, phường Hạnh T, Thành
phố Hồ Chí Minh, Trương Gia H phát hiện bên trong túi xách màu đen treo trong nhà vệ sinh trên lầu có 06 chiếc nhẫn kim loại màu vàng nên nảy sinh lòng tham và có ý định trộm để bán lấy tiền tiêu xài. Sau khi đã chuyển tất cả các đồ đạc và vật dụng xuống tầng trệt, H một mình quay lên lầu trộm cắp 03 chiếc nhẫn kim loại vàng, cất giấu vào túi đeo chéo trên người H rồi xuống nhà và cùng với T, P, T1 tiếp tục chuyển đồ qua nhà mới của chị T2 tại 2 đường Trần Quý C, phường Thạnh Mỹ T, Thành phố Hồ Chí Minh. Khoảng 13 giờ cùng ngày, H đặt xe Grab đi về nhà trọ của bạn gái tên Tăng Thị Thiên T3 tại số 34 Quang T, phường G, Thành phố Hồ Chí Minh. Sau đó H lấy xe máy chở T3 đi không nói cho T3 biết đi đâu và làm gì. Đến khoảng 13 giờ 35 phút, H chở T3 tới tiệm vàng K, địa chỉ 53 Tô Ngọc V, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh. H đi vào một mình gặp nhân viên tiệm vàng là chị Lê Thị T3 Hiền để bán 01 chiếc nhẫn được 10.580.000 đồng tương đương 01 chỉ vàng 9999 và nhận tiền mặt. Khoảng 13 giờ 41 phút, H tiếp tục chở T3 đến tiệm vàng Kim Ngọc Nữ III, địa chỉ: 6, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh gặp nhân viên tiệm vàng là chị Nguyễn Thị Kim Yến để bán chiếc nhẫn thứ 2 và nhận tiền mặt 10.600.000 đồng tương đương 01 chỉ vàng 9999. Chiếc nhẫn còn lại trọng lượng 02 chỉ vàng 9999 H cất trong túi đeo trên người. Việc bán vàng do một mình H thực hiện, T3 không biết H trộm cắp tài sản của người khác, không biết số vàng mà H mang đi bán từ đâu mà có. Số tiền bán 02 chiếc nhẫn được 21.180.000 đồng, H mua một bộ cơ bida hết 5.400.000 đồng và đóng tiền nhà trọ cho T3 hết 2.500.000 đồng. Còn lại 13.280.000 đồng H cất trong túi quần jean phía trước, bên phải và phơi trên ban công phòng trọ của T3.
Đến khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày, anh Đặng Minh T thông báo trên
nhóm Zalo làm việc với nội dung “chị Đặng Thị Sơn T2 bị mất 04 chỉ vàng 9999 và yêu cầu ai lấy thì trả lại trước 21 giờ 00 ngày 24/8/2025, nếu không sẽ trình báo cơ quan Công an”. Do lo sợ bị phát hiện nên H đã bỏ chiếc nhẫn trọng lượng 02 chỉ vàng 9999 còn lại vào bồn vệ sinh trong phòng trọ của T3 rồi xả nước trôi đi nhằm che giấu hành vi phạm tội.
Tại cơ quan điều tra, bị cáo Trương Gia H thừa nhận toàn bộ hành vi trộm
cắp tài sản gồm 03 (ba) chiếc nhẫn vàng có trọng lượng 04 chỉ vàng 9999 của chị Đặng Thị Sơn T2 vào ngày 24/8/2025.
Chị Lê Thị T3 Hiền nhân viên tiệm vàng K đã tự nguyện giao nộp 01
(một) miếng kim loại vàng sau khi đã nấu cháy, chị Nguyễn Thị Kim Y nhân viên tiệm vàng Kim N đã tự nguyện giao nộp 01 (một) chiếc nhẫn kim loại màu vàng. Đây là 02 chiếc nhẫn H đã bán ngày 24/8/2025.
Tại Bản Kết luận định giá tài sản số 11/KL-HĐĐGTS ngày 04/11/2025
của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự -Ủy ban nhân dân phường
Hạnh T kết luận: 03 (ba) chiếc nhẫn vàng 9999 có tổng trọng lượng là 04 (bốn)
chỉ tại thời điểm ngày 24/8/2025 trị giá 47.400.000 đồng.
Vật chứng tạm giữ:
- 01 (một) bộ cơ bi da và bao đựng, đã qua sử dụng; 01 (một) quần dài
bằng jean, đã qua sử dụng; 01 (một) áo khoác có mũ trùm đầu, có in dòng chữ
“Whenever Meet Hot Hoodie In Your Area” màu trắng, đã qua sử dụng.
Số tiền 13.280.000 đồng.
02 (hai) mẫu vật bằng kim loại màu vàng. Căn cứ Giấy kết quả thử
nghiệm số 16102025/08-PNJL-TNV ngày 22/10/2025 của Công ty TNHH MTV
Giám định PNJ có kết quả thử nghiệm như sau: 01 (một) mẫu vật bằng kim loại
màu vàng có hàm lượng vàng là 98,04%Au, khối lượng 3,740 gram; 01 (một)
mẫu vật bằng kim loại màu vàng có hàm lượng vàng là 99,98% Au, khối lượng
3,750 gram. 02 mẫu vật trên đã được niêm phong bằng seal niêm phong số PNJ
000147 của Công ty TNHH MTV Giám định PNJ.
Số tiền 13.280.000 đồng và 02 mẫu vật bằng kim loại màu vàng đã được
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh gửi tại Phòng giao
dịch số 10 - Kho bạc Nhà nước khu vực II.
Về trách nhiệm dân sự: Bà Đặng Thị Sơn T2 yêu cầu được trả lại tài sản
đã mất là 04 (bốn) chỉ vàng 9999, bà Lê Thị T3 Hiền yêu cầu bị cáo H trả lại số
tiền 10.580.000 đồng đã mua lại chiếc nhẫn vàng tại tiệm vàng K, bà Nguyễn
Thị Kim Y yêu cầu bị cáo H trả lại số tiền 10.600.000 đồng đã mua lại chiếc
nhẫn vàng tại tiệm vàng Kim N.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh, bị cáo
Trương Gia H đã T1 nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 55/2026/HS-ST ngày 27/01/2026 của Tòa
án nhân dân Khu vực A, Thành phố Hồ Chí Minh, đã quyết định:
Tuyên bố: Bị cáo Trương Gia H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật
Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, năm 2025.
Xử phạt bị cáo Trương Gia H 02 (hai) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
Thời hạn tù tính từ ngày 29/8/2025.
Ngoài ra, Bản án hình sự sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, nghĩa vụ
nộp án phí và quyền kháng cáo, kháng nghị theo quy định của pháp luật.
Ngày 10/02/2026, bị cáo Trương Gia H kháng cáo xin xem xét giảm nhẹ hình
phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay:
Bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo xin xem xét giảm nhẹ hình phạt và
cung cấp thêm tình tiết bị cáo đã nộp lại số tiền 31.600.000 đồng để khắc phục hậu quả trong giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm .
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia
phiên tòa đưa ra ý kiến phát biểu:
Sau khi xem xét tất cả lời khai, tình tiết trong hồ sơ vụ án, nhận thấy bản
án sơ thẩm đã tuyên bị cáo Trương Gia H phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội. Bị cáo kháng cáo xin xem xét giảm nhẹ hình phạt và cung cấp thêm tình tiết bị cáo nộp lại số tiền 31.600.000 đồng để khắc phục hậu quả nên đề nghị áp dụng thêm điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo. Tuy nhiên, mức án cấp sơ thẩm đã tuyên là phù hợp nên đề nghị áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trương Gia H; giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Luật sư bào chữa cho bị cáo Trương Gia H trình bày:
Thống nhất về tội danh truy tố đối với bị cáo. Cấp sơ thẩm đã áp dụng cho
bị cáo các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Trước khi mở phiên tòa phúc thẩm, bị cáo đã nộp lại số tiền 31.600.000 đồng để khắc phục toàn bộ hậu quả của vụ án nên đề nghị áp dụng thêm cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Ngoài ra, quá trình điều tra bị cáo tích cực hợp tác với cơ quan điều tra, chỉ điểm nơi bán vàng để thu hồi cũng như chỗ cất giấu tiền nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng thêm điểm t khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo. Bị cáo có 4 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, không có tình tiết tăng nặng, hậu quả vụ án đã được khắc phục hoàn toàn nên đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Bị cáo thống nhất với phần bào chữa của Luật sư và không tranh luận.
Đại diện Viện kiểm sát tranh luận: Đối với yêu cầu của Luật sư về việc áp
dụng cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm t khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự là không có cơ sở.
Bị cáo Trương Gia H nói lời sau cùng xin Hội đồng xét xử xem xét giảm
nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng cấp sơ
thẩm trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Đơn kháng cáo của bị cáo Trương Gia H trong thời hạn luật định là
hợp lệ nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án cấp phúc thẩm. Tại phiên tòa
phúc thẩm, bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo xin xem xét giảm nhẹ hình
phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm ngày hôm nay, căn cứ vào tài liệu có trong
hồ sơ vụ án, lời khai của bị cáo đã có đủ cơ sở để kết luận:
Ngày 24/8/2025, tại nhà số 4 đường Thiên Hộ D, phường Hạnh T, Thành
phố Hồ Chí Minh, Trương Gia H có hành vi lén lút trộm cắp 03 (ba) chiếc nhẫn
vàng có trọng lượng 04 chỉ vàng 9999 trị giá 47.400.000 đồng của chị Đặng Thị
Sơn T2.
Với hành vi đó, bị cáo Trương Gia H đã phạm vào tội:“Trộm cắp tài sản”;
Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm
2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo về tội
danh, điều khoản nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
Xét kháng cáo của bị cáo:
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Trương Gia H kháng cáo xin giảm nhẹ hình
phạt. Khi lượng hình Tòa án cấp sơ thẩm đã nhận định: quá trình điều tra và tại
phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu thuộc
trường hợp ít nghiêm trọng để áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự
quy tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo
và xử bị cáo mức án 02 (hai) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Trước khi mở
phiên toà phúc thẩm, bị cáo nộp thêm số tiền 31.600.000 đồng để tự nguyện thi
hành xong một phần bản án về nghĩa vụ dân sự nên có căn cứ áp dụng thêm
điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo. Xét thấy, bị cáo có nhiều
tình tiết giảm nhẹ, không có tình tiết tăng nặng, phạm tội lần đầu và hậu quả vụ
án đã được khắc phục nên có căn cứ xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình
phạt để bị cáo có cơ hội sửa chữa lỗi lầm, làm lại cuộc đời. Do đó, chấp nhận
kháng cáo của bị cáo Trương Gia H; Sửa Bản án sơ thẩm.
Do chấp nhận kháng cáo nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc
thẩm.
Đối với số tiền 31.600.000 đồng bị cáo nộp lại cần tiếp tục tạm giữ đảm
bảo thi hành án. Ghi nhận việc bị cáo đã bồi thường xong.
Các vấn đề khác không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp
luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật
Tố tụng hình sự năm 2015;
1. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trương Gia H; Sửa bản án hình sự sơ
thẩm số 55/2026/HS-ST ngày 27/01/2026 của Tòa án nhân dân Khu vực A -
Thành phố Hồ Chí Minh.
2. Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 7
của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, năm 2025.
Xử phạt bị cáo Trương Gia H 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm
cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 29/8/2025.
Ghi nhận bị cáo Trương Gia H đã thi hành xong phần trách nhiệm dân sự
buộc bồi thường cho bà Đặng Thị Sơn T2, Lê Thị Thanh H, Nguyễn Thị Kim Y theo Bản án sơ thẩm đã tuyên.
Tiếp tục tạm giữ số tiền 31.600.000 (ba mươi mốt triệu sáu trăm nghìn)
đồng để đảm bảo thi hành án theo biên lai thu tiền số 0006309 ngày 10/4/2026 của Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.
3. Căn cứ Điều 135, 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và căn cứ Điều 22 và
23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí toà án.
Bị cáo Trương Gia H không phải chịu án phí phúc thẩm.
4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị
kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND Tối cao; (1) - TAND Khu vực A – TP.HCM; (1) - VKSND Tp.HCM; (3) - VKSND Khu vực A – TP.HCM;(1) - P.PV06 – CA Tp.HCM; (1) - Phòng THADS KV7. TP HCM; (1) - Bị cáo; (1) - Luật sư; (1) - Công an Tp. Hồ Chí Minh; (1) - Cơ quan THAHS; (1) - Sở Tư pháp; (1) - Lưu: VT, THS, hồ sơ. (23) (6) | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Thanh Lâm |