- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tống Thị Th và V Mạnh Cg phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sun…"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Tống Thị Th và V Mạnh Cg phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TP.BUÔN MA THUỘT TỈNH ĐẮK LẮK ơ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 246/2023/HS-ST Ngày 24/8/2023. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hồng Thanh.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hưng và bà Nguyễn Thị Tạc.
- Thư ký phiên toà: Bà B i Thị Sim - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột tham gia phiên toà: Ông Phạm Đức Lễ - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 8 năm 2023, tại phòng xử án A, trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 238/2023/TLST-HS ngày 28 tháng 7 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 247/2023/QĐXXST- HS ngày 11 tháng 8 năm 2023 đối với bị cáo:
1. Họ và tên: Tống Thị Th (Tên gọi khác: Không). Sinh ngày 03/3/1998; tại tỉnh Đắk Lắk.
Nơi đăng ký thường trú: Thôn 1, xã E, thành phố B, tỉnh Đ. Nơi ở trước khi phạm tội: Số 33/3 Lê Thị R, phường E, thành phố B, tỉnh Đ; giới tính: Nữ; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ học vấn: 11/12; con ông Tống Xuân Th (đã chết) và con bà Trương Thị Th, sinh năm 1969; bị cáo chưa có chồng và có 01 con, sinh năm 2019.
Tiền án: 01. Tiền sự: Không.
Tại Bản án số: 236/2020/HSST, ngày 16/6/2020 bị Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An xử phạt 15 tháng t , về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Ngày 15/12/2021 chấp hành xong hình phạt t , chưa được xóa án tích.
Bị tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Buôn Ma Thuột, từ ngày 16/02/2023 đến nay (Có mặt).
2. Họ và tên: Vũ Mạnh Cg (Tên gọi khác: Không). Sinh ngày 18/6/1996; tại tỉnh ên Bái.
Nơi đăng ký thường trú: Thôn Q, xã X, huyện V, tỉnh Y; Nơi ở trước khi phạm tội: Số 82/1 A, phường T, thành phố B, tỉnh Đ; giới tính: Nam; dân tộc: Tày; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ học vấn: 12/12; con ông V Đức H, sinh năm 1970 và con bà Hoàng Thị X, sinh năm 1975; bị cáo chưa có vợ, con.
Tiền án: 01. Tiền sự: Không.
Tại Bản án số: 59/2020/HSST, ngày 07/5/2020 bị Tòa án nhân dân Quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội, xử phạt 24 tháng t , về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 06/01/2022 chấp hành xong hình phạt t , chưa được xóa án tích.
Bị tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Buôn Ma Thuột, từ ngày 16/02/2023 đến nay (Có mặt).
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Ông Nguyễn Trần Hà Ng, sinh năm 1994; Trú tại: Số 93/43 Nguyễn Khoa Đ, phường K, thành phố B, tỉnh Đ ắn mặt).
+ Ông Nguyễn Vĩnh Th, sinh năm 1994; Trú tại: Tổ dân phố 14, phường K, thành phố B, tỉnh Đ ắn mặt).
+ Bà Hoàng Thị Nh, sinh năm: 1966; Trú tại: Số 33/3 Lê Thị R, phường E, thành phố B, tỉnh Đ ắn mặt).
+ Ông Trần Văn C, sinh năm 1955; Trú tại: Tổ dân phố 1, phường T, thành phố B, tỉnh Đ (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
V Mạnh Cg và Tống Thị Th có quan hệ tình cảm với nhau nên đầu tháng 02 năm 2023, sau khi Th biết một loại thuốc lá có tên thường gọi là “Tobacco” dạng thảo mộc khô có chứa chất ma túy nên đã thỏa thuận với Cg mua về bán lại kiếm lời.
Th sử dụng ứng dụng Facebook có tài khoản là "Cô Dâu Bride" b ng điện thoại Iphone 7 Plus màu vàng liên lạc với một người sử dụng tài khoản Facebook là “Thể Mèo Tam” hỏi mua 01kg thuốc lá “Tobacco” thì được “Thể Mèo Tam” đồng ý bán cho Th với giá 7.000.000 đồng và thỏa thuận sau khi Th bán hết thì sẽ trả tiền sau. Tabacco được vận chuyển b ng xe ô tô khách (chưa xác định được biển kiểm soát và đặc điểm xe) đến đường Lê Duẩn, phường Ea Tam, thành phố Buôn Ma Thuột; Sau đó người lái xe gọi Th ra lấy và đem về phòng trọ tại địa chỉ 33/3 Lê Thị Riêng, phường Ea Tam, thành phố Buôn Ma Thuột, Đắk Lắk. Tại đây, Th chia số thuốc lá “Tobacco” vào 03 hộp nhựa và 01 gói nylon, Th đưa cho Cg 01 hộp nhựa và 01 gói nylon đựng thuốc lá “Tobacco”, Cg đem về phòng trọ của Cg tại địa chỉ 82/1 Ama Kh, phường T, thành phố B cất giấu để bán. Sau đó, Th sử dụng giấy cuộn thuốc lá “Tobacco” thành 39 điếu và cất giấu c ng với 02 hộp nhựa chứa thuốc lá “Tobacco” tại phòng trọ của Th để c ng Cg bán kiếm lời.
Vào đầu tháng 02/2023, tại đường Lê Thị Riêng, phường Ea Tam, thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk, Th bán 01 điếu thuốc lá “Tobacco” cho Nguyễn Trần Hà Ng, thu lợi 60.000 đồng và 01 điếu thuốc lá “Tobacco” cho Nguyễn Vĩnh Th, thu lợi 60.000 đồng. Vào ngày 14/02/2023, 01 nam giới (chưa xác định nhân thân, lai lịch) liên lạc với Th qua Facebook hỏi mua 01 điếu thuốc lá “Tobacco” thì Th đồng ý bán với số tiền 60.000 đồng, thỏa thuận giao tại khu vực hẻm số 100 Ama Khê, thành phố Buôn Ma Thuột. Sau đó, Th đưa cho Cg 01 điếu thuốc lá “Tobacco”, Cg đem đến địa điểm trên bán cho 01 nam giới với giá 60.000 đồng. Ngày 15/02/2023, Th tiếp tục đưa cho Cg 01 điếu thuốc lá “Tobacco”, Cg đem đến khu vực hẻm số 100 Ama Khê, bán cho người nam giới nêu trên với số tiền 60.000 đồng. Đến khoảng 09 giờ ngày 16/02/2023, Th và Cg đang ở phòng trọ của Th tại địa chỉ 33/3 Lê Thị Riêng, thì bị Công an phường Ea Tam kiểm tra, bắt quả tang, tạm giữ 02 hộp nhựa chứa thuốc lá “Tobacco” và 35 điếu chứa thuốc lá “Tobacco” . C ng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Buôn Ma Thuột, tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của V Mạnh Cg, tại phòng trọ địa chỉ: 82/1 Ama Khê, phường Tân Lập, thành phố Buôn Ma Thuột, tạm giữ 01 hộp nhựa và 01 gói nylon chứa thuốc lá “Tobacco”.
Tại Kết luận giám định số: 346/KL-KTHS ngày 08/3/2023 của Phân viện khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng, kết luận:
Mẫu thảo mộc khô màu nâu (dạng sợi nhỏ) đựng trong 01 hộp nhựa có nắp màu xanh, gửi giám định đều có tìm thấy chất ma túy, loại MDMB-4en-PINACA, khối lượng 428,16gam (tạm giữ khi bắt quả tang).
Mẫu thảo mộc khô màu nâu (dạng sợi nhỏ), gửi giám định đều có tìm thấy chất ma túy, loại MDMB-4en-PINACA, khối lượng 124,95gam và mẫu thảo mộc khô màu nâu (dạng sợi nhỏ), gửi giám định đều có tìm thấy chty ma túy, loại MDMB-4en-PINACA, khối lượng 37,78gam. Tất cả được đựng trong 01 hộp nhựa có nắp màu đỏ.
Mẫu thảo mộc khô màu nâu (dạng sợi nhỏ) đựng trong 01 hộp nhựa có nắp màu đỏ, gửi giám định đều có tìm thấy chất ma túy, loại MDMB-4en-PINACA, khối lượng 481,16gam.
Mẫu thảo mộc khô màu nâu (dạng sợi nhỏ) đựng trong túi ni lông, gửi giám định đều có tìm thấy chất ma túy, loại MDMB-4en-PINACA, khối lượng 26,00gam.
Hiện tại, Viện khoa học hình sự và Phân viện khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng không có mẫu chuẩn định lượng chất ma túy MDMB-4en-PINACA nên không thể xác định được hàm lượng c ng như khối lượng chất ma túy MDMB-4en-PINACA trong các mẫu vật gửi giám định.
Cáo trạng số: 244/CT-VKS-HS ngày 28 tháng 7 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột truy tố các bị cáo V Mạnh Cg và Tống Thị Th về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự (BLHS).
Tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng với diễn biến sự việc mà Viện kiểm sát đã truy tố;
Tại phiên tòa bị cáo Cg trình bày thêm: Các bị cáo thỏa thuận tiền bán ma túy về đưa lại cho bị cáo Th để bị cáo Th trả tiền mua ma túy c ng như chi phí ăn uống cho hai người trong cuộc sống.
Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Qua phân tích, đánh giá tính chất, mức độ do hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra, đồng thời đề cập các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo, đề nghị:
Tuyên bố: Bị cáo V Mạnh Cg và Tống Thị Th phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
+ Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS: Xử phạt bị cáo Tống Thị Th mức án từ 08 năm đến 08 năm 06 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày tạm giữ, tạm giam.
+ Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS: Xử phạt bị cáo V Mạnh Cg mức án từ 08 năm đến 08 năm 06 tháng t . Thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày tạm giữ, tạm giam.
- Về xử lý vật chứng:
Tịch thu, tiêu hủy toàn bộ thảo mộc khô và toàn bộ vỏ bao gói gửi giám định ban đầu, tất cả được niêm phong trong gói niêm phong số 346/KL-KTHS của phân Viện Khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng.
Truy thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động kiểu dáng Iphone 7 Plus màu vàng, số Imei 353813088694863, kèm sim số 0332.503.440 và 01 điện thoại di động kiểu dáng Iphone, màu trắng, số Imei: 353997896213864 kèm sim số 0326.839.239.
Trả lại cho bị cáo Tống Thị Th 01 điện thoại di động kiểu dáng Iphone màu tím, nứt bể nắp lưng, số Imei 353901107884779, kèm sim số 0964.101.660.
Truy thu sung ngân sách Nhà nước của bị cáo V Mạnh Cg và Tống Thị Th tồng số tiền 240.000 đồng.
Các bị cáo không tranh luận gì thêm và nói lời nói sau c ng, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Tòa án nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến gì và khiếu nại về hành vi của những người tiến hành tố tụng, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng.
Tại phiên tòa, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt. Xét thấy quá trình điều tra những người này đều đã có lời khai, nội dung vụ án đã được làm rõ nên việc xét xử vắng mặt những người này không làm ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án. Do đó Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt những người này theo Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 là ph hợp.
Xét lời khai của các bị cáo tại phiên tòa cơ bản ph hợp với tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Qua đó có đủ căn cứ kết luận: Do ý thức coi thường pháp luật nên vào đầu tháng 02/2023, V Mạnh Cg và Tống Thị Th thống nhất mua 01kg chất ma túy loại MDMB-4en-PINACA với số tiền 7.000.000 đồng mục đích để bán kiếm lời. Sau khi mua được chất ma túy, Th đã 02 lần bán trái phép chất ma túy, loại MDMB-4en-PINACA cho Nguyễn Vĩnh Th và Nguyễn Trần Hà Ng, thu lợi bất chính số tiền 120.000 đồng. Ngày 14/02/2023 và 15/02/2023 tại khu vực hẻm số 100 Ama Khê, thành phố Buôn Ma Thuột, Th cùng Cg đã 02 lần bán trái phép chất ma túy cho một người không rõ nhân thân lai lịch, loại MDMB-4en-PINACA thu lợi bất chính số tiền 120.000 đồng. Ngoài ra, Th còn cất giấu 590,89gam chất ma túy loại MDMB-4en-PINACA tại nơi ở 33/3 Lê Thị Riêng, phường Ea Tam, thành phố Buôn Ma Thuột và Cg cất giấu 507,16gam chất ma túy loại MDMB-4en-PINACA tại nơi ở 82/1 Ama Khê, phường Tân Lập, thành phố Buôn Ma Thuột, Đắk Lắk mục đích để bán.
Hành vi của các bị cáo bị Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột truy tố về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 BLHS là có căn cứ pháp luật.
Điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015 quy định:
“1. N ười nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.
2. Phạm tội thuộc một tron các trườn hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
a)…….,
b) Phạm tội 02 lần trở lên”.
Xét tính chất, mức độ do hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, gây tác hại nghiêm trọng cho sức khoẻ con người, đẩy nhanh tốc độ lây truyền căn bệnh thế kỷ và kéo theo nhiều tệ nạn xã hội khác; Hơn nữa còn xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với chất ma túy nên cần áp dụng mức hình phạt nghiêm tương ứng với tính chất, mức độ do hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra, nh m cải tạo, giáo dục riêng đồng thời răn đe, phòng ngừa chung trong đời sống xã hội về loại tội phạm này.
Trong vụ án này các bị cáo đều c ng thực hiện hành vi phạm tội với mục đích bán kiếm lời, nhưng cần xét bị cáo Th là người rủ rê và trực tiếp liên hệ mua ma túy, sau đó về chia ra thành nhiều hộp và cuốn thành điếu giao cho Cg; Cg có nhiệm vụ cất giữ một ít đồng thời nhận thông báo của Th đi giao ma túy sau đó giao lại tiền cho Th. Vì vậy cần áp dụng mức án cho bị cáo Th cao hơn bị cáo Cg là ph hợp.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo phạm tội đều thuộc trường hợp tái phạm. Đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải ; đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Riêng bị cáo Cg là người đồng bào dân tộc thiểu số được áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 BLHS để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:
Tịch thu, tiêu hủy mẫu vật còn lại sau giám định có khối lượng 427,34 gam thảo mộc khô màu nâu (dạng sợi nhỏ) có chất ma túy, loại MDMB-4en-PINACA đựng trong hộp nhựa có nắp màu xanh, còn lại sau giám định; 123,16 gam thảo mộc khô màu nâu (dạng sợi nhỏ) có chất ma túy, loại MDMB-4en-PINACA và 36,05 gam thảo mộc khô màu nâu (dạng sợi nhỏ) có chất ma túy, loại MDMB-4en-PINACA đựng trong túi nylon niêm phong trong hộp nhựa có nắp màu đỏ, còn lại sau giám định; 478,25 gam thảo mộc khô màu nâu (dạng sợi nhỏ) có chất ma túy, loại MDMB-4en-PINACA đựng trong hộp nhựa có nắp màu đỏ, còn lại sau giám định; 24,80 gam thảo mộc khô màu nâu (dạng sợi nhỏ) có chất ma túy, loại MDMB-4en-PINACA đựng trong túi nylon và toàn bộ bao gói gửi giám định ban đầu, tất cả được niêm phong trong 01 gói niêm phong số 346/KL-KTHS, bên ngoài gói niêm phong có chữ ký ghi tên Hà Minh Hải, Trần Thị Dung và đóng dấu tròn màu đỏ của phân viện khoa học hình sự tại Tp. Đà Nẵng, 02 sim số 0332.503.440, 0326.839.239 (đã khóa mạng).
Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động kiểu dáng Iphone 7 Plus màu vàng, số Imei 353813088694863 của Tống Thị Th và 01 điện thoại di động kiểu dáng Iphone, màu trắng, số Imei: 353997896213864 của V Mạnh Cg đều sử dụng thực hiện hành vi phạm tội.
Truy thu sung quỹ Nhà nước 240.000 đồng là số tiền các bị cáo thu lợi bất chính mà có.
Trả lại cho bị cáo Tống Thị Th 01 (một) điện thoại di động kiểu dáng Iphone màu tím, nút bể nắp lưng. số Imei 353901107884779, kèm sim số Viettel số 0964.101.660 vì không liên quan đến hành vi phạm tội nhưng cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo công tác thi hành án.
Nội dung khác:
Đối với đối tượng sử dụng tài khoản Facebook tên “Thể Mèo Tam” bán ma túy cho Tống Thị Th; đối tượng trên xe ô tô khách giao ma túy cho Th và 02 đối tượng mua ma túy của Th và Cg tại hẻm 100 Ama Khê, phường Tân Lập, thành phố Buôn Ma Thuột. Quá trình điều tra, xác minh đến nay chưa xác định được nhân thân, lai lịch của các đối tượng này. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Buôn Ma Thuột tách hành vi của các đối tượng này khỏi vụ án để tiếp tục xác minh, làm rõ xử lý sau là ph hợp.
Đối với bà Hoàng Thị Nh là chủ nhà trọ cho Tống Thị Th thuê ở và ông Trần Văn C, là chủ nhà trọ V Mạnh Cg thuê ở, bà Nho và ông C không biết và không liên quan đến hành vi phạm tội của các bị cáo nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Buôn Ma Thuột, không đề cập xử lý là ph hợp.
Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Tống Thị Th và V Mạnh Cg phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
2. Về luật p d ng v hình phạt:
+ p dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Tống Thị Th 09 (chín) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 16/02/2023.
+ p dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo V Mạnh Cg 09 (chín) năm t . Thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 16/02/2023.
3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- Tịch thu, tiêu hủy mẫu vật còn lại sau giám định có khối lượng 427,34 gam thảo mộc khô màu nâu (dạng sợi nhỏ) có chất ma túy, loại MDMB-4en-PINACA đựng trong hộp nhựa có nắp màu xanh, còn lại sau giám định; 123,16 gam thảo mộc khô màu nâu (dạng sợi nhỏ) có chất ma túy, loại MDMB-4en-PINACA và 36,05 gam thảo mộc khô màu nâu (dạng sợi nhỏ) có chất ma túy, loại MDMB-4en-PINACA đựng trong túi nylon niêm phong trong hộp nhựa có nắp màu đỏ, còn lại sau giám định; 478,25 gam thảo mộc khô màu nâu (dạng sợi nhỏ) có chất ma túy, loại MDMB-4en-PINACA đựng trong hộp nhựa có nắp màu đỏ, còn lại sau giám định; 24,80 gam thảo mộc khô màu nâu (dạng sợi nhỏ) có chất ma túy, loại MDMB-4en-PINACA đựng trong túi nylon và toàn bộ bao gói gửi giám định ban đầu, tất cả được niêm phong trong 01 gói niêm phong số 346/KL-KTHS, bên ngoài gói niêm phong có chữ ký ghi tên Hà Minh Hải, Trần Thị Dung và đóng dấu tròn màu đỏ của phân viện khoa học hình sự tại Tp. Đà Nẵng và 02 sim số 0332.503.440, 0326.839.239 (đã khóa mạng).
- Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 (một) điện thoại di động kiểu dáng Iphone 7 Plus màu vàng, số Imei 353813088694863 và 01 (một) điện thoại di động kiểu dáng Iphone, màu trắng, số Imei: 353997896213864.
- Trả lại cho bị cáo Tống Thị Th 01 (một) điện thoại di động kiểu dáng Iphone màu tím, nứt bể nắp lưng; số Imei 353901107884779, kèm sim số 01 sim Viettel số 0964.101.660 , không sử dụng vào việc phạm tội nhưng cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo công tác thi hành án.
Như biên bản iao nhận vật chứn iữa Cơ quan cảnh sát điều tra công an thành phố Buôn Ma Thuột và Chi cục thi hành án thành phố Buôn Ma Thuột ngày 24/8/2023).
Truy thu sung quỹ Nhà nước của các bị cáo Tống Thị Th và V Mạnh Cg 240.000 đồng (tương ứng mỗi bị cáo 120.000đồng) là số tiền các bị cáo thu lợi bất chính mà có.
4. Về n phí: Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016
quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Buộc mỗi bị cáo Tống Thị Th và V Mạnh Cg phải chịu 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
n xử sơ thẩm bị cáo và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ khi tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
| Nơi nhận: - Vụ Giám đốc kiểm tra I-TANDTC; - TAND tỉnh Đắk Lắk; - VKSND tp. Buôn Ma Thuột; - VKSND tỉnh Đắk Lắk; - CQCSĐT Công tp. Buôn Ma Thuột; - CCTHADS tp. Buôn Ma Thuột; - Sở tư pháp; - Phòng HSNVCA Đắk Lắk; - Bị cáo; người liên quan; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA NGUYỄN THỊ HỒNG TH |