vanban.org

Bản án 246/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chị Lại Thị H được ly hôn anh Phạm Văn K.

Về con chung: Giao các con chung Phạm Trường M, sinh ngày 19 tháng 02 năm 2010 và Phạm Ngọc Minh K1, sinh ngày 11 tháng 10 năm 2017 cho chị Lại Thị H nuôi dưỡng; giao con chung Phạm Trường T2, sinh ngày 11 tháng 02 năm 2008 cho anh Phạm Văn K nuôi dưỡng đến khi mỗi con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự th… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bản án hôn nhân"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chị Lại Thị H được ly hôn anh Phạm Văn K.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THỦY NGUYÊN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 246/2022/HNGĐ-ST
Ngày 09-12-2022
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦY NGUYÊN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trương Minh Huế

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Hoàng Đắc Hân

Bà Bùi Thúy Mở

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lan Anh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Thúy - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 12 năm 2022, tại trụ sở, Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 312/2022/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 10 năm 2022 về ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 246/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 11 năm 2022, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Lại Thị H; Nơi cư trú: Thôn 01, xã T1, huyện T, thành phố Hải Phòng; có mặt.

- Bị đơn: Anh Phạm Văn K; Nơi cư trú: Thôn 01, xã T1, huyện T, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Đơn khởi kiện, tại Bản tự khai ngày 11 tháng 10 năm 2022, nguyên đơn là chị Lại Thị H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị kết hôn với anh Phạm Văn K trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã T1, huyện T, thành phố Hải Phòng vào ngày 18 tháng 12 năm 2006. Sau khi kết hôn, chị về chung sống cùng gia đình anh K ở Thôn 1, xã T1, huyện T, thành phố Hải Phòng. Quá trình chung sống, ngay từ những ngày tháng đầu sau khi kết hôn, vợ chồng đã phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm, anh K có những lời nói và hành động không tôn trọng chị và bố, mẹ chị. Chị có góp ý nhưng anh K không tiếp thu sửa chữa, mà thường chửi chị vô cớ. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Phạm Văn K.

Về con chung: Chị và anh Phạm Văn K có ba con chung là Phạm Trường T2, sinh ngày 11 tháng 02 năm 2008; Phạm Trường M, sinh ngày 19 tháng 02 năm 2010 và Phạm Ngọc Minh K1, sinh ngày 11 tháng 10 năm 2017. Hiện tại ba con chung đều do chị và anh K nuôi dưỡng. Chị đề nghị Tòa án giao ba con chung cho chị nuôi dưỡng và yêu cầu anh K có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho chị mỗi cháu 2.000.000 đồng một tháng, tổng cộng là 6.000.000 đồng một tháng. Hiện tại chị làm công nhân thu nhập 7.500.000 đồng/tháng, còn anh K là lái xe taxi của gia đình thu nhập khoảng từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng/tháng.

Về tài sản chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại Bản tự khai ngày 15 tháng 11 năm 2022, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, chị Lại Thị H thay đổi lời khai: Về việc cấp dưỡng nuôi con, trong mọi trường hợp Tòa án giải quyết về vấn đề con chung chị không yêu cầu Tòa án giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con.

Về quan hệ hôn nhân, về con chung và tài sản chung: Chị vẫn giữ nguyên quan điểm theo đơn khởi kiện và bản tự khai ngày 11 tháng 10 năm 2022.

Đối với bị đơn anh Phạm Văn K: Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh K để anh K đến Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên giải quyết việc chị Lại Thị H xin ly hôn nhưng anh K đều vắng mặt không có lý do.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên phát biểu ý kiến: Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, những người tiến hành tố tụng và nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đối với bị đơn đã không đến Tòa án ghi bản tự khai; không đến Tòa án để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải theo giấy triệu tập, thông báo của Tòa án; vắng mặt tại phiên tòa không có lý do đã vi phạm các điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về nội dung: Căn cứ khoản 1 Điều 28; Điều 35; Điều 39; Điều 147, Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Dân sự; các điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 6, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội ban hành ngày 30 tháng 12 năm 2016, đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chị Lại Thị H được ly hôn anh Phạm Văn K. Về con chung: Giao cho anh Phạm Văn K nuôi dưỡng con chung Phạm Trường T2, sinh ngày 11 tháng 02 năm 2008; Giao cho chị Lại Thị H nuôi dưỡng các con chung Phạm Trường M, sinh ngày 19 tháng 02 năm 2010 và Phạm Ngọc Minh K1, sinh ngày 11 tháng 10 năm 2017; không giải quyết về cấp dưỡng nuôi con và tài sản chung. Chị H phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Chị Lại Thị H có đơn khởi kiện xin ly hôn với anh Phạm Văn K. Đây là vụ án tranh chấp hôn nhân và gia đình được quy định tại khoản 1, Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Anh Phạm Văn K hiện đang cư trú tại thôn 1, xã T2, huyện T, thành phố Hải Phòng nên theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng.

Về việc vắng mặt đương sự: Bị đơn anh Phạm Văn K đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên tiến hành xét xử vắng mặt anh Phạm Văn K.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Lại Thị H và anh Phạm Văn K kết hôn trên cơ sở tự nguyện và được Ủy ban nhân dân xã T1, huyện T, thành phố Hải Phòng cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 18 tháng 12 năm 2006, nên theo quy định tại Điều 8, Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình, đây là hôn nhân hợp pháp.

Tuy anh Phạm Văn K không đến Tòa án, nên không có quan điểm của anh K về việc chị Lại Thị H xin ly hôn, nhưng căn cứ lời khai của nguyên đơn, căn cứ các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp và các chứng cứ do Tòa án thu thập có đủ cơ sở xác định: Quá trình chung sống, chị Lại Thị H và anh Phạm Văn K đã phát sinh mâu thuẫn do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm nên thường xuyên xảy ra cãi vã, xúc phạm nhau. Xét quan hệ hôn nhân của chị Lại Thị H và anh Phạm Văn K là không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, cần áp dụng Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận đề nghị xin được ly hôn của chị Lại Thị H đối với anh Phạm Văn K.

Về con chung: Chị Lại Thị H và anh Phạm Văn K có ba con chung là Phạm Trường T2, sinh ngày 11 tháng 02 năm 2008; Phạm Trường M, sinh ngày 19 tháng 02 năm 2010 và Phạm Ngọc Minh K1, sinh ngày 11 tháng 10 năm 2017. Hiện tại các con chung đều do chị H và anh K nuôi dưỡng. Chị H đề nghị Tòa án giao ba con chung cho chị nuôi dưỡng, anh K không có quan điểm về con chung. Các con chung Phạm Trường T2 và Phạm Trường M có quan điểm được chung sống với cả bố và mẹ. Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, chị H đều xác nhận chị H là công nhân thu nhập 7.500.000 đồng/tháng, anh K là lái xe taxi của gia đình thu nhập khoảng 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng/tháng, cao hơn mức thu nhập của chị H. Nên điều kiện nuôi dưỡng con chung của anh K tốt hơn chị Huệ. Do vậy, để đảm bảo quyền lợi cho con chung, cần giao cho anh K nuôi dưỡng một con chung, giao cho chị H nuôi dưỡng hai con chung. Các con chung Phạm Trường M và Phạm Ngọc Minh K1 nhỏ hơn nên cần sự chăm sóc của người mẹ nhiều hơn nên giao cho chị H nuôi dưỡng, giao cho anh K nuôi dưỡng con chung Phạm Trường T2.

Về việc cấp dưỡng nuôi con: Chị Lại Thị H không yêu cầu Tòa án giải quyết, anh Phạm Văn K không có quan điểm về việc cấp dưỡng nuôi con. Nên Tòa án không giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con, khi nào các đương sự có yêu cầu Tòa án sẽ giải quyết bằng vụ việc dân sự khác.

Về tài sản chung: Chị Lại Thị H không yêu cầu Tòa án giải quyết, anh Phạm Văn K không có quan điểm về vấn đề tài sản. Nên Tòa án không xem xét, giải quyết về vấn đề tài sản, khi nào các đương sự có yêu cầu Tòa án sẽ giải quyết bằng vụ việc dân sự khác.

Về án phí sơ thẩm: Chị Lại Thị H là nguyên đơn phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Chị Lại Thị H và anh Phạm Văn K được quyền kháng cáo Bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Căn cứ Điều 39 Bộ luật Dân sự;

- Căn cứ các điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Căn cứ Điều 6; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội ban hành ngày 30 tháng 12 năm 2016.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Lại Thị H được ly hôn anh Phạm Văn K.

2. Về con chung: Giao các con chung Phạm Trường M, sinh ngày 19 tháng 02 năm 2010 và Phạm Ngọc Minh K1, sinh ngày 11 tháng 10 năm 2017 cho chị Lại Thị H nuôi dưỡng; giao con chung Phạm Trường T2, sinh ngày 11 tháng 02 năm 2008 cho anh Phạm Văn K nuôi dưỡng đến khi mỗi con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Về việc cấp dưỡng nuôi con: Chị Lại Thị H không yêu cầu Tòa án giải quyết, anh Phạm Văn K không có quan điểm về việc cấp dưỡng nuôi con. Nên Tòa án không giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con, khi nào các đương sự có yêu cầu Tòa án sẽ giải quyết bằng vụ việc dân sự khác.

4. Về tài sản chung: Chị Lại Thị H không yêu cầu Tòa án giải quyết, anh Phạm Văn K không có quan điểm về vấn đề tài sản. Nên Tòa án không xem xét, giải quyết về vấn đề tài sản, khi nào các đương sự có yêu cầu Tòa án sẽ giải quyết bằng vụ việc dân sự khác.

5. Về án phí: Chị Lại Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí ly hôn chị H đã nộp theo Biên lai thu tiền số 8192 ngày 06 tháng 10 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thủy Nguyên. Chị Lại Thị H đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.

6. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ