- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Hoài L,-MGMD - phạm tội môi giới mại dâm (điều 328 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố b cáo Nguy n Hoài L phạm tội “Môi giới mại dâm”
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BẮC TỪ LIÊM THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 246/2021/HSST Ngày: 25/5/2021 |
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BẮC TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Sơn Hà;
Các Hội thẩm nhân dân: Ông
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Hoàng Thị Ngọc Thúy, Thư ký tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm, Thành phố Hà Nội.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm tham gia phiên tòa: Bà Dương Thị Cẩm Vân, Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 5 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm, TP. Hà Nội, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 78/2021/HSST ngày 20 tháng 4 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 87/2021/HS-QĐ ngày 28/4/2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số 21 /2021/HS-QĐ ngày 10 tháng 5 năm 2021 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguy n Hoài L, Sinh ngày: 11/02/1998. Tên gọi khác: Không. Giới tính: Nữ. Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: thôn T, xã T, huyện H, t nh Thái Bình. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Văn hóa: 12/12. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Họ tên cha: Nguyễn Văn V, sinh năm 1967; Họ tên mẹ B i Thị M, sinh năm: 1968. Gia đình có 03 chị em, bị cáo là con th hai.
Tiền án, tiền sự: không
Danh ch bản số 40 ngày 28/12/2020 tại Công an quận Bắc Từ Liêm, TP. Hà Nội.
Bị cáo bị tạm giam, giữ từ ngày 19/12/2020 đến ngày 04/02/2021. Hiện đang áp dụng biện pháp ngăn chặn: “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. (Có mặt tại phiên tòa).
Người bào chữa cho bị cáo: Ông Trịnh Sơn Đ – Luật sư Văn phòng Luật sư Sơn Nga – Đoàn Luật sư thành phố Hà Nội. (Có mặt tại phiên tòa).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 2000. HKTT: xã Cao N, TP. T, t nh Thái Nguyên. Vắng mặt tại phiên tòa.
2. Chị Vi Thị T, sinh năm 1998. HKTT: xã M, TP. L, t nh Lạng Sơn. Vắng mặt tại phiên tòa.
3. Anh Đoàn Tuấn Asinh năm 1991. HKTT: Tổ 10 Cụm 2, phường N, quận T, TP. Hà Nội. Vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 13 giờ 50 phút ngày 19/12/2020, tổ công tác Công an quận Bắc Từ Liêm kiểm tra hành ch nh tại nhà ngh H Hotel số 22 – TT3, thành phố Giao Lưu, đường số 2, phường Cổ Nhuế 1, quận Bắc Từ Liêm, TP. Hà Nội phát hiện tại phòng 202 có 01 đôi nam nữ là Đoàn T A (SN 1991; HKTT: tổ 10 Cụm 2 phường N, Tây H , HN) và Nguyễn Thị T (SN 2000; HKTT: xã C, TP n, t nh Thái Nguyên), tại phòng 301 có 01 đôi nam nữ là Nguyễn Văn L (SN 1993; HKTT: phường M, quận Bắc Từ Liêm, TP Hà Nội) và Vi Thị T (SN 1998; HKTT: xã M, TP La, t nh Lạng Sơn) đang có hành vi quan hệ tình dục với nhau. Tại đây, Đoàn T A, Nguyễn Văn L, Nguyễn Thị T, Vi Thị T khai mua bán dâm do Nguyễn Hoài L môi giới nên tổ công tác đã d n giải các đối tư ng về trụ sở làm r .
Ngày 19/12/2020, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Bắc Từ Liêm ra lệnh giữ người trong trường h p khẩn cấp đối với Nguyễn Hoài L.
Vật chứng thu giữ c a Nguy n Hoài L:
- 01 điện thoại di động kiểu dáng OPPO 5 màu h ng đã qua sử dụng, lắp sim thuê bao 0583446409 và 0336557427.
Thu giữ c a Nguy n Th T:
- 01 điện thoại di động kiểu dáng phone 6 màu trắng, lắp sim số 0383368903 đã qua sử dụng.
- Số tiền 2.500.000 đ ng (hai triệu năm trăm nghìn đ ng)
Thu giữ c a Vi Th T:
- 01 điện thoại di động kiểu dáng phone 7 màu đen, lắp số thuê bao 0961775896 đã qua sử dụng.
- 01 bao cao su đã qua sử dụng
- số tiền 2.000.000 đ ng (hai triệu đ ng)
Thu giữ c a Đoàn T A:
- 01 bao cao su đã qua sử dụng
- 01 điện thoại di động kiểu dáng phone 7 Plus màu đen lắp số thuê bao 0387450554 đã qua sử dụng
Quá trình điều tra xác đ nh:
Khoảng đ u tháng 9 năm 2020, Nguyễn Hoài L sử dụng tài khoản mạng xã hội facebook tên “Xiu GP” truy cập vào nhóm “SGBB-SGDD”, sau đó đư c phê duyệt làm chủ nhóm. Nguyễn Hoài L để lại số điện thoại 0583446409 và tài khoản zalo tên “Cô L” để những người nào có nhu c u mua bán dâm s liên hệ. Khoảng cuối tháng 9 năm 2020, Nguyễn Thị T sử dụng tài khoản alo “T Bé” và Vi Thị T sử dụng tài khoản alo “Mộc Lan” kết bạn với tài khoản alo “Cô L” và nói đang là sinh viên thiếu tiền đóng học và muốn bán dâm để kiếm tiền, gửi ảnh nhờ L liên hệ với khách mua dâm.
Khoảng 9 giờ sáng ngày 19/12/2020, Đoàn T A và Nguyễn Văn L đi uống nước ở Khu đô thị Thành phố iao Lưu, đường Phạm Văn Đ ng, phường Cổ Nhuế 1, quận Bắc Từ Liêm, Thành phố Hà Nội. Trong quá trình uống nước, T A và L có nhu c u mua dâm nên thống nhất góp tiền để mua dâm. Đoàn T A gọi điện từ số điện thoại 0387450554 đến số điện thoại 0336557427 của Nguyễn Hoài L đặt vấn đề mua dâm cho 02 người. Nguyễn Hoài L đ ng ý và sử dụng tài khoản alo mang tên “Cô L” gửi ảnh Nguyễn Thị T và Vi Thị T cho Đoàn T A chọn. Chọn xong gái bán dâm thì Nguyễn Hoài L và Đoàn T A thống nhất giá mua dâm 8.000.000 đ ng/02 người. T A chuyển khoản số tiền 8.000.000 đ ng vào số tài khoản 19030947044017 mang tên Nguyễn Hoài L của ngân hàng Thương mại cổ ph n K thương Việt Nam. Khoảng 12 giờ 40 phút, Đoàn T A và Nguyễn Văn L đến nhà ngh H ng Hà, địa ch đường số 2 Thành phố Giao Lưu, phường Cổ Nhuế 1, quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội thuê phòng 202 và phòng 301, sau đó nhắn tin cho L báo địa ch nhà ngh . Nguyễn Hoài L nhắn tin số phòng và địa ch nhà ngh cho Nguyễn Thị T và Vi Thị T. Khoảng 13 giờ 20 phút c ng ngày, Nguyễn Thị T đến khách sạn H ng Hà và lên phòng 202 để bán dâm cho Đoàn T A. Khoảng 10 phút sau, Vi Thị T đến khách sạn và lên phòng 301 bán dâm cho Nguyễn Văn L. Sau đó, Vi Thị T và Nguyễn Thị T nhắn tin cho L, L chuyển số tiền 2.500.000 đ ng vào tài khoản 0910160008888 của ngân hàng Thương mại cổ ph n Quân đội cho Nguyễn Thị T và chuyển số tiền 2.000.000 đ ng vào tài khoản 0731000767563 của ngân hàng Thương mại Cổ ph n ngoại thương cho Vi Thị T. Khoảng 13 giờ 55 phút ngày 19/12/2020, khi các đối tư ng trên đang thực hiện hành vi mua bán dâm (quan hệ tình dục) thì bị tổ công tác Công an quận Bắc Từ Liêm tiến hành kiểm tra hành chính bắt quả tang.
Tại cơ quan điều tra Nguyễn Hoài L khai nhận như trên và khai đây là l n đ u môi giới mại dâm thì bị bắt. Qua môi giới mại dâm cho Nguyễn Thị T và Vi Thị T bán dâm, L đư c hưởng l i số tiền 3.500.000 đ ng.
Nguyễn Thị T khai nhận như trên và khai Nguyễn Hoài L sử dụng tài khoản alo “Cô L” nhắn tin đến tài khoản alo “T Bé” của Nguyễn Thị T bảo T đi bán dâm cho khách với giá 3.000.000 đ ng, sau khi bán dâm cho khách xong L cắt lại 500.000 đ ng tiền công môi giới và chuyển cho T 2.500.000 đ ng qua số tài khoản 0910160008888 mang tên Nguyễn Thị T của ngân hàng Thương mại cổ ph n Quân đội.
Vi Thị T khai nhận như trên và khai đây là l n đ u đi bán dâm, sau khi bán dâm cho khách xong Nguyễn Hoài L chuyển cho T 2.000.000 đ ng qua số tài khoản 0731000767563 mang tên Vi Thị T của ngân hàng Thương mại Cổ ph n ngoại thương.
Đoàn T A, Nguyễn Văn L khai nhận như trên và khai T A và L có nhu c u mua dâm nên mỗi người góp 4.000.000 đ ng để Đoàn T A trả tiền môi giới và tiền mua dâm cho Nguyễn Hoài L.
Ngày 16/3/2021, Cơ quan điều tra Công an quận Bắc Từ Liêm đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Vi Thị T, Nguyễn Thị T về hành vi bán dâm với m c phạt 200.000 đ ng; Đoàn T A, Nguyễn Văn L về hành vi mua dâm với m c phạt 750.000 đ ng theo quy định tại khoản 1 điều 22, 23 Nghị định 167 ngày 12/11/2013 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội.
Đối với nhà ngh H ng Hà: quá trình hoạt động có giấy phép kinh doanh, có đủ điều kiện về an ninh trật tự, cho khách thuê phòng theo đúng quy định, khi cho khách thuê phòng không biết để hoạt động mại dâm nên cơ quan điều tra không có căn c xử lý.
Đối với các vật ch ng là 4.500.000 đ ng, 02 bao cao su đã qua sử dụng và 04 chiếc điện thoại thu giữ có liên quan đến hành vi phạm tội của nên cơ quan điều tra chuyển theo h sơ vụ án.
Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Hoài L đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng số /CT-VKS ngày
của Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm truy tố. Đại diện VKSND quận Bắc Từ Liêm, TP. Hà Nội v n giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Nguyễn Hoài L về tội “Môi giới mại dâm” quy định tại Điều 328 Bộ luật hình sự 2015. Căn c vào t nh chất hành vi phạm tội của bị cáo; các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; nhân thân người phạm tội. Đề nghị Hội đ ng xét xử: Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 328; Điểm s Khoản 1 Điều 51, Điều 38, Bộ luật hình sự năm 2015. Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoài L
tù. Thời hạn t t nh từ ngày bắt thi hành án, đư c trừ thời gian bị cáo đã bị tạm giam từ ngày 19/12/2020 đến ngày 04/02/2021.
Vật chứng của vụ án:
- Đề nghị tịch thu tiêu hủy: 02 bao cao su đã qua sử dụng.
- Đề nghị tịch thu sung công qu Nhà nước: 01 điện thoại di động kiểu dáng OPPO 5 màu h ng đã qua sử dụng, lắp sim thuê bao 0583446409 và 0336557427; 01 điện thoại di động kiểu dáng phone 6 màu trắng, lắp sim số 0383368903 đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động kiểu dáng phone 7 màu đen, lắp số thuê bao 0961775896 đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động kiểu dáng phone 7 Plus màu đen lắp số thuê bao 0387450554 đã qua sử dụng; 4.500.000 đ ng;
Bị cáo phải chịu án ph theo quy định của pháp luật.
Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Hoài L phát biểu:
Lời nói sau c ng của bị cáo: Bị cáo nhận th c đư c hành vi phạm tội của mình và xin đư c giảm nhẹ hình phạt để các bị cáo có cơ hội sửa chữa.
Căn c vào các tài liệu, ch ng c đã đư c thẩm tra tại phiên tòa, căn c vào lời khai của bị cáo và kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đ y đủ toàn diện các ch ng c , ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát, của bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn c vào các tài liệu trong h sơ vụ án đã đư c tranh tụng tại phiên tòa, Hội đ ng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Cơ quan điều tra Công an quận Bắc Từ Liêm, TP. Hà Nội; Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm, TP. Hà Nội trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, Người có quyền l i nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều ph h p với các quy định của pháp luật.
Những căn cứ xác định tội danh:
Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa ph h p với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, ph h p với lời khai của Người có quyền l i, nghĩa vụ liên quan, vật ch ng đư c thu giữ c ng các ch ng c khác có trong h sơ vụ án. Có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 13 giờ 50 phút ngày 19/12/2020, tại nhà ngh H ng Hà, số 22 TT3, thành phố iao Lưu, đường số 2, phường Cổ Nhuế 1, quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội, Nguyễn Hoài L có hành vi môi giới cho Nguyễn Thị T và Vi Thị T đi bán dâm cho khách, hưởng l i 3.500.000 đ ng thì bị Cơ quan Công an quận Bắc Từ Liêm phát hiện bắt giữ.
Hành vi nêu trên của bị cáo Nguyễn Hoài L đã phạm tội “Môi giới mại dâm” theo điểm đ khoản 2 Điều 328 Bộ luật hình sự
Xét tính chất hành vi phạm tội:
Hành vi của bị cáo Nguyễn Hoài L là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm tới trật tự an toàn công cộng, ảnh hưởng xấu đến nếp sống văn hóa, thu n phong m tục và là môi trường lây lan căn bệnh thế kỷ H V/A DS và các căn bệnh xã hội khác. Bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và nhận th c đư c hành vi của mình là pháp luật nghiêm cấm nhưng do lười lao động, không chịu làm ăn chính đáng, bị cáo đã rủ rê, môi giới cho 02 đối tư ng bán dâm và 02 đối tư ng mua dâm, mục đ ch bị cáo môi giới mại dâm nhằm thu l i bất ch nh. Do vậy việc đưa vụ án ra xét xử và phải ra một bản án nghiêm khắc đối với bị cáo mới đủ tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
- Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
+ Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo Điều 52 Bộ luật Hình sự;
+ Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên đư c hưởng tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
+ Về nhân thân: Bị cáo chưa có tiền án tiền sự, L n đ u bị đưa ra xét xử.
Xét bị cáo không có nghề nghiệp, không có tài sản nên Hội đ ng xét xử không áp dụng hình phạt tiền với bị cáo.
Đối với các đối tư ng Đoàn T A, Nguyễn Văn L, Vi Thị T, Nguyễn Thị T đã bị Công an quận Bắc Từ Liêm xử phạt hành ch nh về hành vi “Mua dâm”, “Bán dâm” nên Hội đ ng xét xử không xét.
Đối với nhà ngh H ng Hà: quá trình hoạt động có giấy phép kinh doanh, có đủ điều kiện về an ninh trật tự, cho khách thuê phòng theo đúng quy định, khi cho khách thuê phòng không biết để hoạt động mại dâm nên Hội đ ng xét xử không xét.
Về xử lý vật chứng:
- Đối với 02 bao cao su đã qua sử dụng c n tịch thu tiêu hủy.
- Đối với: 01 điện thoại di động kiểu dáng OPPO 5 màu h ng đã qua sử dụng, lắp sim thuê bao 0583446409 và 0336557427; 01 điện thoại di động kiểu dáng phone 6 màu trắng, lắp sim số 0383368903 đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động kiểu dáng phone 7 màu đen, lắp số thuê bao 0961775896 đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động kiểu dáng phone 7 Plus màu đen lắp số thuê bao 0387450554 đã qua sử dụng; 4.500.000 đ ng; là những vật ch ng bị cáo và các đối tư ng sử dụng vào việc “Môi giới mại dâm” và mua, bán dâm nên c n tịch thu sung công qu Nhà nước.
Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án ph hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các l trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố b cáo Nguy n Hoài L phạm tội “Môi giới mại dâm”
Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 328; Điểm s Khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 54 và Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015. Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoài L 24 (Hai mươi bốn) tháng t . Thời hạn t t nh từ ngày bắt thi hành án, đư c trừ thời giam đã bị tạm giam từ ngày 19/12/2020 đến ngày 04/02/2021.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy: 02 bao cao su đã qua sử dụng.
- Tịch thu sung công qu Nhà nước: 01 điện thoại di động kiểu dáng OPPO 5 màu h ng đã qua sử dụng, lắp sim thuê bao 0583446409 và 0336557427; 01 điện thoại di động kiểu dáng phone 6 màu trắng, lắp sim số 0383368903 đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động kiểu dáng phone 7 màu đen, lắp số thuê bao 0961775896 đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động kiểu dáng phone 7 Plus màu đen lắp số thuê bao 0387450554 đã qua sử dụng; 4.500.000 đ ng;
(Vật chứng được xử lý theo Biên bản giao nhận vật chứng số:
, ngày giữa Công an quận Bắc Từ Liêm với Chi cục THA dân sự quận Bắc Từ Liêm, TP. Hà Nội).
3. Về án phí: Áp dụng Điều 135; Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Người có quyền l i, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày đư c tống đạt h p lệ bản án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - VKSND quận Bắc Từ Liêm; - VKSND thành phố Hà Nội; - TAND thành phố Hà Nội; - Công an quận Bắc Từ Liêm; - Chi cục THA DS quận Bắc Từ Liêm; -- | Thẩm phán - Ch toạ phiên toà Nguy n Sơn Hà |