- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận cho chị Bùi Thị Lệ T được ly hôn anh Trần Đình Phước.
- Căn cứ chính? Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| Bản án số: 246/2019/HNGĐ-ST Ngày: 17/10/2019 V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn ” |
NHÂN DANH
-
:
-
:
:
Ông Lê Văn Bích
Ông Lê Tiến Dũng.
-
: Ông Đỗ Đức Chính là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phù Mỹ.
-
: Bà Nguyễn Thị Xuân Hương - Kiểm sát viên.
17
10 năm 2019
112/2019/TLST- HNGĐ
27/5/2019 “ Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
1329 /2019/QĐXX- ST
9 năm 2019
:
-Nguyên đơn: Bà Bùi Thị Lệ T, sinh năm 1975, có mặt
Địa chỉ: Thôn L, xã M, huyện N, tỉnh Bình Định.
-
: Ông Trần Đình P, sinh năm 1971, vắng mặt
Địa chỉ: Thôn L, xã C, huyện N, tỉnh Bình Định.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 25/3/2019
Bùi Thị Lệ T
:
Về hôn nhân: Chị T đăng ký kết hôn với anh Trần Đình P tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện N, tỉnh Bình Định
19/9/2011 (Giấy chứng nhận kết hôn số 42/2011, quyển số 01/2011). Sau khi kết hôn vợ chồng chị T, anh P sống không có hạnh phúc mà thường xuyên xảy ra mâu thuẫn trầm trọng nguyên nhân chính là anh P thường xuyên chơi bài bạc, số đề, cá độ bóng đá. Anh P sống không có trách nhiệm với gia đình, vợ con. Từ đó, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng hơn nên chị T không thể tiếp tục chung sống với anh P mà Chị đã dẫn con về nhà mẹ đẻ của Chị để ở. Nay chị T xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, Chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho Chị được ly hôn anh P.
Về nuôi con chung: Vợ chồng có hai con chung là Trần Tuyết M, sinh ngày 18 tháng 4 năm 2012 và Trần Minh C, sinh ngày 13 tháng 4 năm 2018. Hiện con đang ở với chị T. Ly hôn, chị T yêu cầu được nuôi hai con chung, không yêu cầu anh P cấp dưỡng nuôi con.
Về chia tài sản: Chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Nghĩa vụ về tài sản: Không có.
đơn anh Trần Đình P: Tòa án đã niêm yết công khai các văn bản,
, giấy triệu tập, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, giấy
theo quy định tại khoản 5 Điều 177 và Điều 179 a Bộ luật tố tụng dân sự nhưng bị đơn anh Trần Đình P không đến tòa và không có văn bản ghi ý kiến của anh P.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: khi thụ lý vụ án cho
.Về hôn nhân: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Về con chung: Giao hai con chung cho chị T nuôi dưỡng. Về tài sản chung và nghĩa vụ về tài sản: Không xét. Về án phí: Chị T phải chịu theo quy định của luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án vụ án được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng. Tòa án nhân dân huyện Phù Mỹ nhận định:
Về tố tụng: Tòa án đã niêm yết công khai các văn bản tố tụng cho anh P theo quy định tại Điều 179 của Bộ luật tố tụng dân sự nhưng anh P không đến tòa và cũng không có văn bản ghi ý kiến của anh gởi cho Tòa án. Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh P theo quy định tại điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về hôn nhân: Hôn nhân của chị Bùi Thị Lệ T và anh Trần Đình P là hôn nhân hợp pháp. Sau một thời gian chung sống vợ chồng đã phát sinh mâu thuẫn mà nguyên nhân chính là do anh P không có trách nhiệm với vợ con và gia đình mà thường xuyên chơi bài bạc, số đề, cá độ đá bóng. Bản thân chị T đã nhiều lần khuyên bảo để anh P từ bỏ các tệ nạn xã hội nói trên và chăm lo xây dựng hạnh phúc gia đình nhưng anh P không từ bỏ. Từ đó, tình cảm vợ chồng bị sứt mẻ nên chị T anh P đã sống ly thân từ năm 2018 cho đến nay.
, anh P
P
. Cho thấy tình cảm vợ chồng chị T, anh P thực sự không còn, mâu thuẫn vợ chồng đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Hội đồng xét xử xét thấy nếu có duy trì, bảo vệ hạnh phúc của chị T, anh P chắc chắn không mang lại kết quả gì. Do đó, căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận cho chị T được ly hôn anh P.
Về nuôi con chung: Chị T anh P có hai con chung Trần Tuyết M, sinh ngày 18 tháng 4 năm 2012 và Trần Minh C, sinh ngày 13 tháng 4 năm 2018. Hiện các con đang ở với chị T. Ly hôn chị T yêu cầu được nuôi hai con chung, không yêu cầu anh P cấp dưỡng nuôi con.
Xét thấy, hiện nay các con đang ở với chị T nên để đảm bảo và ổn định cuộc sống của các cháu nên giao các con cho chị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp với Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình. Chị T không yêu cầu anh P cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xét.
Anh P có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không được ai cản trở, nhưng anh P không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc nuôi dưỡng, giáo dục con của chị T. Khi cần thiết chị T, anh P đều có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con, mức cấp dưỡng và phương thức cấp dưỡng nuôi con.
Về chia tài sản: Hội đồng xét xử không xét.
Nghĩa vụ về tài sản: Không có.
Về án phí: Chị Bùi Thị Lệ T phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tiền án phí sơ thẩm ly hôn
T
0000797
27/5/2019
.
trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 28, Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 26, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dựng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Chấp nhận cho chị Bùi Thị Lệ T được ly hôn anh Trần Đình Phước.
2. Về nuôi con chung: Giao hai con chung là cháu Trần Tuyết M, sinh ngày 18 tháng 4 năm 2012 và Trần Minh C, sinh ngày 13 tháng 4 năm 2018 cho chị Bùi Thị Lệ T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Chị T không yêu cầu anh P cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xét.
Anh P có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không được ai cản trở, nhưng anh P không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc nuôi dưỡng, giáo dục con của chị T. Khi cần thiết Chị T, anh P đều có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con, mức cấp dưỡng và phương thức cấp dưỡng nuôi con.
3. Về chia tài sản chung và nghĩa vụ về tài sản: Hội đồng xét xử không xét.
4. Về án phí: Chị Bùi Thị Lệ T phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tiền án phí sơ thẩm ly hôn
T
0000
.
Các bên đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Riêng thời hạn kháng cáo của anh P tính từ ngày anh P nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện N, tỉnh Bình Định.
: -
;
| - ; -UBND xã C; - ; -Lưu HS, VP. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) |