vanban.org

Bản án 246/2017/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Tống Thị Dở và Lê Văn Cường.

Về nuôi con chung, chia tài sản, nợ chung: Chị Dở tự thỏa thuận với anh Cường, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Tống Thị Dở phải chịu 300.000 đồng. Ngày 15 tháng 8 năm 2017, chị Dở đã nộp tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng t…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Giải quyết ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Tống Thị Dở và Lê Văn Cường.
  • Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 143 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TRẦN VĂN THỜI
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 246/2017/HNGĐ-ST
Ngày 12 - 10 - 2017
V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Thái Hoàng Đắc

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Văn Công Trọn

2. Ông Nguyễn Trường Hận

- Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Nga Muội – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.

Ngày 12 tháng 10 năm 2017 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 469/2017/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 8 năm 2017 về tranh chấp ly hôn, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 399/2017/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 9 năm 2017 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Tống Thị Dở – sinh năm 1970

Địa chỉ: ấp Cỏ Xước, xã Lợi An, huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.

- Bị đơn: Anh Lê Văn Cường – sinh năm 1967

Địa chỉ: ấp Cỏ Xước, xã Lợi An, huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.

Tại phiên tòa, chị Dở có mặt, anh Cường vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 11-8-2017 và trong quá trình xét xử, nguyên đơn Tống Thị Dở trình bày:

Về hôn nhân: Năm 1991 chị và anh Lê Văn Cường tự nguyện chung sống với nhau. Năm 2004 anh chị mới đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Lợi An, huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau. Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, thường xuyên cự cãi. Anh Cường thường đánh đập và xúc phạm chị. Chính quyền địa phương có lập biên bản xử lý. Gia đình hai bên có hòa giải, hàn gắn nhưng không thành. Vợ chồng không còn hạnh phúc, không thể hàn gắn nên chị yêu cầu ly hôn với anh Cường.

Về nuôi con chung, chia tài sản, nợ chung: Chị và anh Cường tự thỏa thuận với nhau, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa, chị Dở giữ nguyên nội dung yêu cầu khởi kiện.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng: Anh Lê Văn Cường đã được Tòa án thông báo, triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng anh Cường đều từ chối nhận văn bản tố tụng của Tòa án và vắng mặt tại phien tòa lần thứ hai. Căn cứ vào Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh Cường.

[2] Về hôn nhân: Chị Tống Thị Dở với anh Lê Văn Cường tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật nên hôn nhân giữa anh chị được pháp luật công nhận là hợp pháp và được bảo vệ.

Xét nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng theo chị Dở trình bày tại phần nội dung vụ án. Nguyên nhân chính do anh Cường hờn ghen, nhiều lần đánh đập và xúc phạm chị. Tại phiên tòa, chị Dở cung cấp chứng cứ là chứng minh ngày 04-10 và 10-10-2017, Công an xã Lợi An tiến hành lập biên bản về việc anh Cường có hành vi bạo lực gia đình, đánh chị Dở là thực tế. Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định: "Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được". Chị Dở kiên quyết ly hôn và xác định không còn tình cảm với anh Cường. Về phía anh Cường đã được Tòa án thông báo, triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng anh Cường đều từ chối nhận các văn bản tố tụng của Tòa án. Điều đó cho thấy anh Cường không có thiện chí hợp tác với Tòa án và hàn gắn tình cảm cùng chị Dở. Xét thấy, tình trạng hôn nhân giữa chị Dở và anh Cường không thể hàn gắn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị Tống Thị Dở được ly hôn với anh Lê Văn Cường.

[3] Về nuôi con chung, chia tài sản chung, nợ chung: Chị Dở tự thỏa thuận với anh Cường nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[4] Về án phí: Chị Dở phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 51, 56 của Luật hôn nhân và gia đình; các Điều 28, 35, 143, 147, 227 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Tống Thị Dở và Lê Văn Cường.

2. Về nuôi con chung, chia tài sản, nợ chung: Chị Dở tự thỏa thuận với anh Cường, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

3. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Tống Thị Dở phải chịu 300.000 đồng. Ngày 15 tháng 8 năm 2017, chị Dở đã nộp tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng theo biên lai thu số 0007258 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau được chuyển thu đối trừ.

Án xử sơ thẩm nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

“Trường hợp bản án được thi hành theo quy đinh tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (được sửa đổi, bổ sung năm 2014).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ