vanban.org

Bản án 245/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Chúc L.

Về hôn nhân: Không công nhận chị Nguyễn Chúc L và anh Ngô Minh H là vợ chồng. Về con chung: Giao cháu Ngô Kiều N, sinh ngày 27/5/2008 cho chị Nguyễn Chúc L tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Nguyễn Chúc L khởi kiện ly hôn anh Ngô Minh H"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Chúc L.
  • Căn cứ chính? Điều 53 Luật Hôn nhân và Gia đình tuyên bố; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 245/2024/HNGĐ-ST
Ngày 16-9-2024
V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Quốc Trạng

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Châu Trung Trực

Ông Châu Văn Dỹ

- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Diễm My là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi.

Ngày 16 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 402/2024/TLST-HNGĐ ngày 10tháng 9 năm 2024, về “tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 275/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 9 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Chúc L, sinh năm 1984; địa chỉ cư trú: Ấp MT, xã TAK, huyện ĐD, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).

- Bị đơn: Anh Ngô Minh H, sinh năm 1981; địa chỉ cư trú: Ấp TLB, xã TT, huyện ĐD, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Chị Nguyễn Chúc L và anh Ngô Minh H thống nhất trình bày:

- Về hôn nhân: Anh chị chung sống vào năm 2003 trên tinh thần tự nguyện nhưng không có đăng ký kết hôn. Trong quá trình chung sống, anh chị phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, cuộc sống không hòa hợp dẫn đến thường xuyên cự cãi và ly thân cách đây trên 10 năm. Anh chị yêu cầu Tòa án không công nhận là vợ chồng.

- Về con chung: Anh chị có 02 con chung là cháu Ngô Hằng N, sinh năm 2004 và cháu Ngô Kiều N, sinh ngày 27/5/2008, cháu Kiều N đang sống chung chị L. Đối với cháu Hằng N đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Anh chị thống nhất giao cháu Kiều N cho chị L tiếp tục nuôi dưỡng, việc cấp dưỡng không đặt ra.

- Về tài sản chung và nợ: Không có.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng: Chị L và anh H có yêu cầu xét xử vắng mặt. Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt đối với các đương sự là phù hợp.

Về hôn nhân: Chị L, anh H chung sống vào năm 2003 trên tinh thần tự nguyện nhưng không có đăng ký kết hôn. Theo khoản 1 Điều 14 của Luật Hôn nhân và Gia đình quy định “Nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng...”. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 53 của Luật Hôn nhân và Gia đình tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị L và anh H.

Về con chung, xét thấy: Cháu Hằng N đã trưởng thành và các đương sự không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết là phù hợp. Cháu Kiều N đang sống chung chị L vẫn phát triển tốt về mặt thể chất lẫn tinh thần. Chị L và anh H thống nhất giao cháu Kiều N cho chị L tiếp tục nuôi dưỡng, thỏa thuận của anh chị phù hợp với nguyện vọng của cháu và quy định của pháp luật nên được ghi nhận. Về cấp dưỡng nuôi con: Các đương sự không đặt ra yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Về tài sản chung và nợ: Chị L, anh H xác định không có và không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết là phù hợp.

Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị L phải chịu 300.000đ, đã nộp đủ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 147, khoản 1 Điều 228 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào khoản 2 Điều 53, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và Lệ phí Tòa án;

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Chúc L.

1. Về hôn nhân: Không công nhận chị Nguyễn Chúc L và anh Ngô Minh H là vợ chồng.

2. Về con chung: Giao cháu Ngô Kiều N, sinh ngày 27/5/2008 cho chị Nguyễn Chúc L tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.

Anh Ngô Minh H không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Nguyễn Chúc L phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng), nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm đã nộp là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0001744 ngày 10 tháng 9 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đầm Dơi, chị L đã nộp đủ.

Các đương sự được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ