vanban.org

Bản án 245/2022/HSST — Hình sự

TAND Q. Long Biên, TP. Hà Nội Tuyên án 10/11/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo BDS phạm tội: “ Cưỡng đoạt tài sản”.

Xử phạt bị cáo BDS 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 36 tháng tính từ ngày tuyên án. Giao bị cáo S cho Ủy ban nhân dân thôn ĐH, xã TT, huyện TL, TP HP để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Cưỡng đoạt tài sản - phạm tội cưỡng đoạt tài sản (điều 170 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo BDS phạm tội: “ Cưỡng đoạt tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 170 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LB
THÀNH PHỐ HN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 245/2022/HSST
Ngày: 10/11/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LB, THÀNH PHỐ HN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thu Nga

Các Hội thẩm nhân dân

1) Ông Nguyễn Văn Đông

2) Ông Bùi Văn Bình

- Thư ký phiên Tòa: Bà Nguyễn Minh Ngọc – Thư ký Tòa án nhân dân quận LB, Thành phố HN.

- Đại diện viện kiểm sát nhân dân quận LB-Thành phố HN tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng Hạnh – Kiểm sát viên

Ngày 10 tháng 11 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận LB, Thành phố HN, đã xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 243/2022/HSST, ngày 11 tháng 10 năm 2022, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 245/2022/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 10 năm 2022 đối với bị cáo: Họ và tên: BDS, sinh năm 2002. HKTT: Thôn ĐH, xã TT, huyện TL, TP HP. Chỗ ở hiện tại: Số nhà 20 phố HM, phường LTT, quận HQ, TP HN. Quèc tÞch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. T«n gi¸o: Kh«ng. V¨n hãa: 12/12. NghÒ nghiÖp: Lao động tự do. Con ông BDU sinh năm 1972. Con bà TTL sinh năm 1982. Tiền án, tiền sự: Theo danh chỉ bản số 000000526 lập ngày 28/7/2022 tại Công an quận LB và lý lịch bị can thể hiện bị cáo chưa có tiền án tiền sự.

Bị cáo bị bắt khẩn cấp và tạm giữ ngày 18/7/2022. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 – Công an thành phố HN. ( Bị cáo có mặt tại phiên tòa).

Người bị hại: Chị NHT sinh năm 2002 Trú tại: Tổ 12 Phường BĐ, quận LB, thành phố HN.

(Có đơn xin xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng tháng 5/2022, BDS và NHT quen biết nhau thông qua mạng xã hội và phát sinh tình cảm yêu nhau. S sử dụng tài khoản Facebook, Messenger có tên “MĐS”, tài khoản Zalo có tên “Hy” và sử dụng số điện thoại 08…; Tr sử dụng tài khoản Facebook, Messenger có tên là “HT”, tài khoản Zalo có tên “HT” và sử dụng số điện thoại 0924…để liên lạc với nhau. Sau đó, S yêu cầu chị Tr sử dụng ứng dụng FaceTime để gọi video hình ảnh cho nhau, đồng thời yêu cầu chị Tr tự cởi quần áo, thực hiện các hành vi dùng tay kích thích vào các bộ phận trên cơ thể. Trong quá trình này S đã sử dụng chế độ ghi màn hình điện thoại để lưu lại video chat sex giữa Tr và S (tổng số 02 đoạn video một đoạn có thời gian dài 09 phút 00 giây và một đoạn có thời gian là 01 phút 30 giây – các video này đều được S lưu trên điện thoại). Đến khoảng giữa tháng 6/2022, do không hợp nhau nên Tr và S đã chia tay. Sau đó khoảng một tuần, do cần tiền để tiêu xài nên S đã dùng video và hình ảnh trên để đe dọa chiếm đoạt tài sản của chị Tr. S nhắn tin qua Zalo và Messenger yêu cầu Tr chuyển số tiền 2.000.000 đồng vào tài khoản của S số 0869946423 (mở tại Ngân hàng MB bank mang tên BUI DOAN SANG) nếu Tr không chịu đưa tiền thì S sẽ đưa những video và hình ảnh trên của Tr lên mạng xã hội. Do lo sợ ngày 25/06/2022, Tr đã buộc phải sử dụng tài khoản của Tr số 101... (mở tại Ngân hàng VCB mang tên NHTR) để chuyển số tiền 500.000 đồng vào tài khoản của S. Tiếp tục với thủ đoạn trên ngày 29/06/2022, S tiếp tục ép chị Tr phải chuyển tiếp số tiền 1.500.000 đồng, ngày 08/07/2022 chuyển số tiền 1.000.000 đồng, đến ngày 10/07/2022 chuyển số tiền 1.000.000 đồng, tổng số tiền S đã chiếm đoạt của chị Tr là: 4.000.000 đồng. Toàn bộ số tiền trên S đã rút ra để tiêu xài cá nhân hết số tiền trên. Tiếp tục đến ngày 16/07/2022, S yêu cầu chị Tr chuyển thêm 2.000.000 đồng, nhưng do chị Tr không có tiền nên chưa chuyển được cho S. Ngày 17/7/2022, chị Tr đã đến Công an phường BĐ để trình báo sự việc trên. Sau đó đến ngày 18/07/2022 tại số 20 phố HM, phường LTT, quận HK, HN, S bị Cơ quan công an triệu tập để làm việc. Tại Cơ quan công an S đã khai nhận toàn bộ nội dung sự việc như đã nêu trên.

Tang vật thu giữ: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus màu đen, số sim 08…, số Imel: 353010096382454 (thu giữ của BDS); 01 bản sao kê tài khoản số: 101..., tại ngân hàng VCB mang tên NHTR; 01 bản sao kê tài khoản số: 08…, tại Ngân hàng MB Bank mang tên BDS.

Tại bản cáo trạng số 235/CT-VKS ngày 06 tháng 10 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân quận LB đã truy tố bị cáo BDS phạm tội “ Cưỡng đoạt tài sản” theo khoản 1 điều 170 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa sơ thẩm:

Bị cáo khai nhận hành vi mà bị cáo đã thực hiện như nội dung bản cáo trạng mà Viện kiểm sát đã truy tố.

Đại diện Viện kiểm nhân dân quận LB sau khi tóm tắt nội dung sự việc, đánh giá lời khai của bị cáo và các tài liệu có trong hồ sơ vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo; trình bầy lời luận tội và đề nghị như sau:

Đề nghị áp dụng khoản 1 điều 170; điểm b, s khoản 1,2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 65 Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng dân sự: Xử phạt BDS từ 15 tháng đến 18 tháng tù về tội Cưỡng đoạt tài sản nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 30 đến 36 tháng.

Về dân sự: Không

Tịch thu sung công 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus màu đen, số sim 08…, số Imel: 353010096382454

Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

.Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận LB, Thành phố HN, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân quận LB, Thành phố HN, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên Tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

.Về hành vi phạm tội của bị cáo BDS: Lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người bị hại và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án thấy có đủ cơ sở kết luận: Khoảng tháng 6/2022, lợi dụng có quan hệ tình cảm với chị NHT nên BDS yêu cầu chị Tr sử dụng ứng dụng Facetime để gọi điện video Tr tự cởi quần áo, khỏa thân thực hiện các hành vi dùng tay kích thích vào bộ phận sinh dục cơ thể. Quá trình gọi điện, S đã ghi lại màn hình các video trên lưu trên điện thoại di động cá nhân. Do cần tiền tiêu sài nên vào các ngày 25/6/2022, 29/6/2022, 08/7/2022 và 10/7/2022, BDS đã có hành vi dùng video, hình ảnh khỏa thân và chat sex trên của chị NHT để đe dọa chiếm đoạt của chị Tr số tiền lần lượt là 500.000 đồng, 1.500.000 đồng, 1.000.000 đồng và 1.000.000 đồng qua hình thức chuyển khoản ngân hàng. Tổng số tiền BDS đã chiến đoạt của chị NHT là 4.000.000 đồng. Cùng với thủ đoạn trên ngày 16/7/2022, S tiếp tục yêu cầu chị Tr chuyển tiếp 2.000.000 đồng nhưng do chị Tr không có tiền nên chưa chuyển được cho S. Sau khi sự việc xảy ra, chị Tr đã đến Công an phường BĐ để trình báo để giải quyết theo quy định của pháp luật.

Hành vi phạm tội lần này của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “ Cưỡng đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 điều 170 của Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội: Cưỡng đoạt tài sản là hoàn toàn đúng người, đúng tội.

Hành vi đe dọa sẽ sử dụng những bức ảnh nhậy cảm của chị Tr đưa lên mạng để uy hiếp tinh thần chị Tr nhằm chiếm đoạt tài sản của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo đã cố ý xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được Bộ luật hình sự bảo vệ và gây mất trật tự trị an xã hội.

. Về nhân thân bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sư: Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án thể hiện bị cáo chưa có tiền án tiền sự. Tại cơ quan điều tra bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã tác động đến gia đình khắc phục hậu quả; người bị hại có đơn đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b, s khoản 1,2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Trong 2 ngày của tháng 6 và 2 ngày của tháng 7 bị cáo đã chiếm đoạt 4.000.000 của chị Tr. Đây là tình tiết tăng nặng theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của bộ luật hình sự.

.Về áp dụng hình phạt đối với bị cáo: Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự đã viện dẫn, Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo nhưng cũng xét bị cáo còn quá trẻ nhận thức pháp luật còn hạn chế, số tiền chiếm đoạt không lớn và đã bị tạm giam 4 tháng đây cũng là hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo do vậy, Hội đồng xét xử thấy có thể áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự cho bị cáo được cải tạo ngoài xã hội thể hiện sự khoan hồng của pháp luật cũng có tác dục giáo dục đối với bị cáo.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có thu nhập không ổn định, do vậy thấy không cần áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

. Về dân sự: Người bị hại đã nhận đủ tiền bồi thường không yêu cầu bồi thường do vậy Hội đồng xét xử không yêu cầu xem xét giải quyết.

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus màu đen, số sim 086…, số Imel: 353010096382454 giữ của bị cáo BDS, Quá trình điều tra xác định, điện thoại trên S dùng vào việc phạm tội và lưu giữ các video, hình ảnh đe dọa cưỡng đoạt tài sản của chị Tr . Do vậy thấy cần tịch thu sung công.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, những người tham gia tố tụng có quyền kháng cáo theo luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng khoản 1 điều 170 của Bộ luật hình sự; điểm b, s khoản 1,2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 65; Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội; Luật Thi hành án.

Tuyên bố bị cáo BDS phạm tội: “ Cưỡng đoạt tài sản”.

Xử phạt bị cáo BDS 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 36 tháng tính từ ngày tuyên án. Giao bị cáo S cho Ủy ban nhân dân thôn ĐH, xã TT, huyện TL, TP HP để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

“Trong thời gian thử thách người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo”.

Trả tự do cho bị cáo ngay tại phiên tòa nếu bị cáo không bị giam về một tội khác.

Về dân sự: Không.

Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước công 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus màu đen, số sim 08…, số Imel: 353010096382454 giữ của bị cáo BDS hiện đang lưu tại Chi Cục thi hành án dân sự quận LB theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 06/10/2022.

Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Án xử công khai sơ thẩm. Báo cho bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án.

Cỡ chữ