vanban.org

Bản án 245/2022/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 01/06/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Căn cứ khoản 2 Điều 123; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ

luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt Bùi Th 12 (mười hai) năm tù về tội “Giết người”. Thời hạn tù tính từ ngày 04/3/2020. Căn cứ Điều 48 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Th - phạm tội giết người (điều 123 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Căn cứ khoản 2 Điều 123; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 245/2022/HS-ST
Ngày: 01/6/2022.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Thanh Nguyễn.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Bùi Quang Việt.

2. Bà Lê Thị Bích Dung.

Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Minh Phước - Thư ký Tòa án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên

tòa: Ông Trần Võ Thắng Trung - Kiểm sát viên.

Ngày 01 tháng 6 năm 2022 tại Trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí

Minh mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số

241/2022/HSST ngày 08/4/2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số

1941/2022/QĐXXST-HS ngày 19/5/2022 đối với bị cáo:

Bùi Th, sinh năm 1961 tại Bình Thuận; nơi thường trú: Khu phố L.T, xã

L, huyện T, tỉnh Bình Thuận; chỗ ở: 3/48 ấp N, xã T, huyện H, Thành phố Hồ

Chí Minh; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 02/12; dân tộc: kinh; tôn giáo:

không; giới tính: nam; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi M (đã chết) và bà

Nguyễn Thị M1; có vợ Nguyễn Thị T1 (đã chết) và 03 con; tiền án, tiền sự:

không. Bị bắt tạm giam ngày 04/3/2020. (có mặt).

Người bào chữa: Luật sư Nguyễn Văn Thận thuộc Đoàn luật sư Thành

phố Hồ Chí Minh bào chữa cho bị cáo Bùi Th. (có mặt).

Bị hại: Ông Thái Thanh T, sinh năm: 1987; trú tại: ấp T.L, xã H, huyện G,

tỉnh Kiên Giang; chỗ ở: Nhà trọ số A, Ấp B, xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí

Minh. (có mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị Ngọc Đ, sinh

năm 1985; nơi thường trú: 97/1 ấp T, xã T1, huyện H Thành phố Hồ Chí Minh.

(vắng mặt).

Người làm chứng: Ông Lê Hoàng T5, sinh năm: 1992; trú tại: 86/6P Tổ

13, Ấp A, xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở: ấp T.L, xã H, huyện G, tỉnh Kiên Giang. (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ

án được tóm tắt như sau:

Khoảng 22 giờ ngày 23/3/2019, Bùi Th điều khiển xe gắn máy đến bãi đất

trống phía sau dãy nhà trọ số 86/6P thuộc tổ 13, Ấp 6, xã Xuân Thới Sơn, huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh để tìm Bùi Quốc Tỉnh (con ruột của Th). Th dựng xe và đi bộ vào thì gặp nhóm Thái Thanh T, Nguyễn Thị Ngọc Đ, Lê Thanh Toàn và Lê Hoàng T5 đang ngồi uống bia. Th nói chuyện với T5 (T5 và Th quen nhau). Trong lúc nói chuyện thì Th chửi thề nên Đ và Toàn cự cãi với Th. Th bỏ đi thì Toàn và Đ đi theo dùng lời lẽ thách thức. Th bỏ lại xe gắn máy và đi bộ về phòng trọ của Th tại địa chỉ số 3/48 ấp Nhị T5, xã T5 Thới Nhì, huyện Hóc Môn thì gặp Bùi Quốc Tỉnh. Th nói Tỉnh chở quay lại chỗ nhà trọ của T để lấy xe, Tỉnh đồng ý. Th lấy 01 một con dao dài khoảng 25cm cán vàng, dao có mũi nhọn (ở khu vực bếp) bỏ vào túi quần bên phải (Tỉnh không biết Th mang theo dao). Khi Tỉnh chở Th quay lại dãy nhà trọ thì T, Toàn, Đ, T5 đang đứng nói chuyện trước dãy nhà trọ; Tỉnh đi ra phía sau nhà trọ lấy xe. Th tiếp tục cự cãi với Đ và Toàn. Toàn và Đ xông vào dùng tay đánh Th, Th dùng tay đánh trả; Đ lấy 01 vỏ chai bia Sài Gòn đỏ (gần vị trí đánh nhau có 01 chồng két vỏ chai bia) đánh 01 cái vào đầu làm Th ngã xuống lòng đường hẻm. Cùng lúc, Tỉnh dắt xe từ bên trong đi ra thấy Th bị đánh nên chạy tới đánh Đ. T lấy 01 vỏ chai bia cầm trên tay trái để đánh Th, lúc này Th đang đứng phía sau lưng T, nên T cầm vỏ chai bia trên tay trái vung tay về phía sau đánh trúng 01 cái vào vùng đầu Bùi Th. Th liền rút con dao từ trong túi quần bên phải đâm 01 nhát trúng vào lưng T rồi rút dao cất vào túi quần. Tỉnh thấy Th bị T đánh nên lấy 01 vỏ chai bia khác cầm trên tay phải đánh 02 cái trúng vào vùng đầu T gây thương tích. Sau đó, Th cùng Tỉnh lấy xe bỏ đi về phòng trọ, Th vứt bỏ con dao gây án trên đường về phòng trọ (không thu hồi được). Riêng T được T5 đưa đi cấp cứu tại bệnh viện Hóc Môn.

Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 447/TgT.19 ngày

29/5/2019 của Trung tâm Pháp y Thành phố Hồ Chí Minh kết luận thương tích của Thái Thanh T:

“1. Chấn thương vùng đỉnh thái dương trái gây rách da, sưng nề mô mềm,

nứt sọ vùng xương đá trái (ảnh 1), tụ khí trong sọ (ảnh 2) đã được điều trị nội bảo tồn, khâu vết thương, hiện còn một sẹo phẳng kích thước 1x1cm (ảnh 3), tình trạng ổn định. Có tỉ lệ 18% (mười tám phần trăm). Thương tích do vật tày tác động gây ra, không nguy hiểm đến tính mạng đương sự. Cổ vỏ chai bia quí cơ quan cung cấp không gây ra được thương tích trên.

2. Chấn thương phần mềm vùng đỉnh phải gây rách da đã được điều trị khâu

vết thương, hiện còn một sẹo kích thước 1,8x(0,1-0,2)cm, phẳng (ảnh 4), tình trạng

ổn định. Có tỉ lệ 02% (Hai phần trăm). Thương tích do vật tày, vật sắc, vật sắc nhọn

hoặc vật có cạnh sắc tác động gây ra, không nguy hiểm đến tính mạng đương sự.

Cổ vỏ chai bia vỡ quí cơ quan cung cấp có thể gây ra được thương tích trên.

3. Vết thương lưng thấu vào ống tủy, gây tổn thương tủy sống mức ngực 11,

đã được phẫu thuật cắt bản sống ngực 11, giải chèn ép tủy và màng cứng, hiện còn:

Một sẹo đâm phẳng kích thước 1,4 x (0,2-0,4)cm tại lưng, bên trái đốt sống ngực

11; Một sẹo mổ giữa lưng ngang mức đốt sống ngực 10, 11 và 12 kích thước 71,5 x

(0,1-0,9)cm; Một sẹo dẫn lưu kích thước 1,5 x (0,1-0,3)cm bên phải sẹo mổ.

Có tỉ lệ 97% (chín mươi bảy phần trăm).

Thương tích do vật sắc nhọn tác động gây ra, có nguy hiểm đến tính mạng

đương sự. Cổ vỏ chai bia vỡ không gây ra được thương tích trên.

Cộng lùi các tỉ lệ trên sẽ ra tỉ lệ 97,58%, làm tròn số sẽ là 98%”.

Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 1134/TgT.19 ngày

16/12/2019 của Trung tâm Pháp y Thành phố Hồ Chí Minh kết luận thương tích

đối với Nguyễn Thị Ngọc Đ: “Chấn thương phần mềm vùng đỉnh phải đã được

điều trị, hiện còn một sẹo phẳng kích thước 2,5x(0,l-0,5)cm (ảnh), tình trạng ổn

định, có tỉ lệ 02% (Hai phần trăm). Vỏ chai bia thủy tinh có thể gây ra thương tích

trên. Dùng tay đấm (tay không đeo trang sức) không gây ra được thương tích trên”.

Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 447.B/TgT.19 ngày

07/4/2020 của Trung tâm Pháp y Thành phố Hồ Chí Minh kết luận đối với thương

tích của Thái Thanh T: “Theo bản kết luận giậm định pháp y về thương tích số

447/TgT. 19 của Thái Thanh T sinh năm 1987: Con dao quí Cơ quan cung cấp có

thể gây ra được thương tích tại lưng của đương sự.”

Tại bản Kết luận giám định pháp y về thương tích số 358/TgT.20 ngày

13/5/2020 của Trung tâm Pháp y - Sở Y tế Thành phố Hồ Chí Minh kết luận

thương tích Bùi Th: “Tỉ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là

01%. Các chấn thương không nguy hiểm đến tính mạng”.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh, Bùi Th,

Nguyễn Thị Ngọc Đ, Lê Thanh Toàn đã thừa nhận hành vi phạm tội nêu trên.

Vật chứng thu giữ: 01 (một) áo sơ mi dài tay màu xanh, có logo in chữ Men

Fashion ở phần cổ áo bên trong, dính rất nhiều vết máu (đã khô), bị một vết rách ở

phía sau áo bên trái.

Về trách nhiệm dân sự: ông Thái Thanh T yêu cầu Bùi Th bồi thường số tiền

530.000.000 đồng.

Tại Bản Cáo trạng số 421/CT-VKS-P2 ngày 10/9/2020, Viện kiểm sát nhân

dân Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Bùi Th về tội “Cố ý gây thương

tích” theo điểm d khoản 4 Điều 134; bị cáo Nguyễn Thị Ngọc Đ về tội “Cố ý

gây thương tích” theo điểm a khoản 1 Điều 134; bị cáo Lê Thanh Toàn về tội

“Gây rối trật tự công cộng” theo khoản 1 Điều 318 của Bộ luật hình sự năm 2015,

sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Ngày 18/5/2021, bị cáo Bùi Th có đơn không yêu cầu xử lý hình sự đối với

Nguyễn Thị Ngọc Đ. Ngày 11/6/2021, Cơ quan CSĐT Công an Thành phố Hồ Chí Minh đã ra Quyết định đình chỉ điều tra vụ án hình sự đối với bị can và Quyết định đình chỉ điều tra vụ án hình sự đối với bị can Nguyễn Thị Ngọc Đ theo điểm a khoản 1 Điều 230 và khoản 2 Điều 155 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Do Lê Thanh Toàn hiện đang bỏ trốn nên 14/6/2021 Cơ quan Cảnh sát điều

tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh đã ra Quyết định truy nã bị can và Quyết định tách vụ án hình sự số 637-13 đối với Lê Thanh Toàn, khi nào bắt được sẽ xử lý sau.

Ngày 21/3/2021, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh ban hành

bản Cáo trạng số 323/CT-VKS-P2 thay thế bản Cáo trạng số 421/CT-VKS-P2 ngày 10/9/2020, đã truy tố bị cáo Bùi Th về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm d khoản 4 Điều 134 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Đến ngày 28/3/2022, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tiếp

tục ban hành bản Cáo trạng số 171/CT-VKS-P2 thay thế bản Cáo trạng số 323/CT-VKS-P2 ngày 21/3/2021, đã truy tố bị cáo Bùi Th về tội “Giết người” theo khoản 2 Điều 123 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Bùi Th đã thừa nhận hành vi phạm tội như nội

dung bản cáo trạng. Bị cáo thừa nhận việc Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội danh “Giết người” là đúng, không oan sai.

Bị hại Thái Thanh T yêu cầu bị cáo Bùi Th phải bồi thường các khoản gồm:

130.000.000 đồng iền viện phí, thuốc men; tiền giảm sút về kinh tế và tổn thất về tinh thần là 100.000.000 đồng; tiền cấp dưỡng nuôi con là Thái Duy Khang, sinh năm 2011 và Thái Mai Thi, sinh năm 2014 cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi là 300.000.000 đồng. Tổng cộng là 530.000.000 đồng. Về hình phạt đề nghị Hội đồng xét xử bị cáo đúng người đúng tội theo quy định của pháp luật.

Bị cáo Bùi Th đồng ý bồi thường theo yêu cầu của bị hại, thể hiện thái độ ăn

năn hối cải, mong muốn bị hại tha thứ lỗi lầm của mình, xin được khoan hồng để sớm có điều kiện làm lại cuộc đời.

Sau khi kiểm tra toàn bộ lời khai của bị cáo, cùng với các tài liệu, chứng cứ

khác được đưa ra xem xét tại phiên tòa; đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Bùi Th về tội “Giết người”. Đề nghị hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 2 Điều 123; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt Bùi Th từ 10 đến 11 năm tù. Về trách nhiệm dân sự, buộc bị cáo phải bồi thường cho người bị hại Thái Thanh T các khoản tiền viện phí và tiền tổn thất tinh thần theo quy định của pháp luật. Đối với vật chứng của vụ án thì đề nghị tịch thu tiêu hủy đối với 01 áo sơ mi dài tay không còn giá trị sử dụng.

Luật sư Nguyễn Văn Thận trình bày bài bào chữa cho bị cáo Bùi Th đề

nghị Hội đồng xét xử xem xét: bị hại cũng có một phần lỗi khi đánh bị cáo trước, bị cáo cũng bị thương tích 01%; trong quá trình xô xát bị cáo đâm vào lưng bị hại 01 nhát chỉ nhằm gây thương tích chứ không nhằm tước đoạt tính

mạng của bị hại. Thời điểm xảy ra vụ án vào 23 giờ đêm khuya, bị cáo không

chủ đích đâm vào vùng trọng yếu và gây thương tật cho bị hại tới 98%, lỗi của

bị cáo là lỗi cố ý gián tiếp. Bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự

như: quá trình điều tra và tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị

cáo có anh trai là Bùi Linh là liệt sĩ; bị cáo phạm tội lần đầu, nhân thân tốt, chưa

có tiền án, tiền sự; hoàn cảnh gia đình khó khăn, tuổi đã lớn, học vấn thấp nên

nhận thức pháp luật có phần hạn chế. Đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo mức

hình phạt thấp nhất theo quy định tại khoản 2 Điều 123 Bộ luật hình sự để bị cáo

sớm trở về gia đình, hòa nhập xã hội, đi làm để bồi thường cho bị hại.

Bị cáo Bùi Th đồng ý với bài bào chữa của luật sư, không tranh luận gì

thêm.

Ông Thái Thanh T không tranh luận.

Đối đáp lại quan điểm của các luật sư, đại diện Viện kiểm sát cho rằng:

hành vi của bị cáo sử dụng con dao Thái Lan là hung khí guy hiểm đâm vào

vùng trọng yếu của bị hại, thấu tủy với thương tật tới 98%, nếu không cấp cứu

kịp thời thì sẽ nguy hiểm đến tính mạng nên đã phạm vào tội “Giết người”. Về

tình tiết mà luật sư nêu bị cáo có anh trai là liệt sỹ nhưng không có tài liệu nào

chứng minh nên không có cơ sở xem xét.

Các bên còn đưa ra một số quan điểm đối đáp, tranh luận nhưng cuối cùng

đều bảo lưu quan điểm như đã trình bày.

Trong phần nói lời sau cùng, bị cáo Bùi Th thể hiện sự ăn năn hối cải, mong

người bị hại tha thứ, xin được Hội đồng xét xử khoan hồng giảm nhẹ hình phạt để

bị cáo sớm được trở về gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được

tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của của cơ quan cảnh sát điều tra Công

an Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ

Chí Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về

thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều

tra và tại phiên tòa, bị cáo Bùi Th, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về

hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Tại

các bản tự khai, biên bản lấy lời khai, bị cáo đều trình bày lời khai hoàn toàn tự

nguyện, không bị ép cung, nhục hình. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của

Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm hôm nay: bị cáo Bùi Th

đã khai nhận toàn bộ những hành vi do bị cáo gây ra như nội dung bản cáo trạng

của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phù hợp với các tài liệu,

chứng cứ được xác định qua bản tự khai, tường trình, biên bản ghi lời khai, biên

bản hỏi cung bị can; lời khai của người làm chứng; bản ảnh, biên bản khám nghiệm hiện trường, bản kết luận giám định pháp y… nên đã có đủ căn cứ xác định: Khoảng 22 giờ ngày 23/3/2019, tại trước nhà số 86/6 hẻm XTS16C, thuộc Tổ 13, Ấp 6, xã Xuân Thới Sơn, huyện Hóc Môn, Bùi Th trong lúc đi tìm con là Bùi Quốc Tỉnh xảy ra mâu thuẫn với Nguyễn Thị Ngọc Đ, Lê Thanh Toàn. Khi bị Toàn và Đ xông vào dùng tay đánh, bị cáo đã dùng tay đánh trả. Sau đó, bị cáo bị Đ lấy 01 vỏ chai bia Sài Gòn đỏ đánh trúng 01 cái vào vùng đầu. Thấy cha bị đánh, Bùi Quốc Tỉnh đã chạy tới dùng vỏ chai bia Sài Gòn đỏ đánh 01 cái trúng vào đầu Đ gây thương tích 02%. Lúc này, Thái Thanh T lấy 01 vỏ chai bia Sài Gòn Đỏ đánh 01 cái trúng vào vùng đầu của mình gây thương tích 01% nên bị cáo Bùi Th đã lấy con dao dài khoảng 25cm, cán vàng, mũi nhọn cất giấu trong người đâm 01 nhát trúng vào vùng lưng của T gây thương tích với tỷ lệ thương tật là 98%. Thương tích do vật sắc nhọn tác động gây ra, có nguy hiểm đến tính mạng đương sự. Cổ vỏ chai bia vỡ không gây ra được thương tích trên. (Theo Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 447/TgT.19 ngày 29/5/2019 của Trung tâm Pháp y Thành phố Hồ Chí Minh).

Trong đó, thương tích của bị hại Thái Thanh T ở vùng đỉnh thái dương

trái tỷ lệ thương tật 18% và thương tích phần mềm vùng đỉnh phải tỷ lệ thương tật 02% là do Bùi Quốc Tỉnh là người gây nên; thương tích ở vùng lưng thấu vào ống tủy với tỷ lệ thương tật 78% là do Bùi Th gây nên.

Như vậy, tuy bị cáo Bùi Th có mang theo con dao dài khoảng 25cm, cán

vàng, mũi nhọn trong người nhưng bị cáo không có chủ đích đâm bị hại từ trước, sau khi bị bị hại Thái Thanh T tấn công thì bị cáo mới rút dao ra cầm trên tay phải đâm 01 nhát trúng vào phần lưng thấu vào ống tủy, gây tổn thương tủy sống mức ngực 11, có nguy hiểm đến tính mạng đương sự. Bị cáo biết việc sử dụng dao nhọn đâm vào vùng trọng yếu sẽ nguy hiểm đến tính mạng của bị hại nhưng vẫn cố ý thực hiện, việc bị hại Thái Thanh T không chết là nằm ngoài ý muốn của bị cáo. Hành vi của bị cáo Bùi Th đã phạm vào tội “Giết người”. Tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 2 Điều 123 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 như Cáo trạng đã truy tố và lời luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa hôm nay là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

Quá trình chuẩn bị xét xử, Tòa án đã trả hồ sơ đề nghị Cơ quan điều tra và

Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xác định rõ trạng thái bị kích động mạnh về tinh thần của Bùi Quốc Tỉnh khi gây thương tích cho bị hại như thế nào, dựa trên căn cứ nào để xử lý triệt để, tránh bỏ lọt người phạm tội. Đồng thời, tiến hành xác minh, làm rõ Bùi Quốc Tỉnh bị bắt trong vụ án khác từ ngày nào, đã được đưa ra xét xử hay chưa, hiện đang thi hành án hay bị giam giữ ở trại giam nào, để Tòa án có cơ sở trích xuất, triệu tập đương sự tham gia tố tụng và giải quyết các vấn đề liên quan. Tuy nhiên, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh vẫn giữ nguyên quan điểm cho rằng khi thấy Bùi Th là cha mình bị T, Điệp cầm chai bia đánh té ngã xuống đất thì Tỉnh đã cầm vỏ chai bia đánh gây thương tích cho T với tỷ lệ 20%, Điệp với tỷ lệ 02%, hành vi cố ý gây thương tích của Bùi Quốc Tỉnh trong trạng thái bị kích động mạnh, tỷ lệ tổn thương của T và Điệp chưa đến 31% nên không xử lý. Viện kiểm sát cũng cho rằng không cần thiết phải

đưa Bùi Quốc Tỉnh vào tham gia tố tụng nên không tiến hành xác minh hiện Bùi

Quốc Tỉnh đang ở đâu. Do vậy, Tòa án không xác định được hiện Bùi Quốc Tỉnh

đang ở đâu để trích xuất, triệu tập đến phiên tòa để giải quyết các vấn đề liên

quan. Do giới hạn của việc xét xử theo quy định tại Điều 298 Bộ luật tố tụng hình

sự nên Hội đồng xét xử chỉ xem xét giải quyết về tội danh và trách nhiệm hình sự

đối với bị cáo Bùi Th trong phạm vi cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân Thành

phố Hồ Chí Minh đã truy tố.

Xét tính chất, mức độ tội phạm do bị cáo gây ra là rất nguy hiểm cho

xã hội, đã xâm phạm đến tính mạng của người khác được pháp luật bảo vệ, ảnh

hưởng đến trật tự, an toàn xã hội nên cần xử lý bị cáo với mức án nghiêm khắc

thì mới có tác dụng giáo dục đối với bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung.

Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo

không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; có nhiều tình tiết giảm nhẹ

trách nhiệm hình sự như: nguyên nhân xảy ra vụ án có một phần lỗi của người bị

hại Thái Thanh T khi đã cùng với Nguyễn Thị Ngọc Đ dùng tay và vỏ chai bia

đánh bị cáo; quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn

năn hối cải; lần đầu phạm tội, nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Với các

tình tiết trên, xét có thể áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật

hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 để xem xét giảm nhẹ một phần

hình phạt cho bị cáo.

Về hành vi của những người liên quan:

Đối với thương tích rách da tại lông mày phải của Lê Thanh Toàn, Toàn đã

có đơn từ chối giám định thương tích, không yêu cầu xử lý hình sự nên Hội đồng

xét xử không xem xét.

Đối với Lê Hoàng T5 không tham gia đánh nhau mà chỉ can ngăn nên Cơ

quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh không xử lý là có căn cứ.

Đối với Thái Thanh T dùng vỏ chai bia Sài Gòn đỏ đánh Bùi Th gây thương

tích 01%, Bùi Th có đơn yêu cầu không xử lý hình sự, nên Cơ quan Cảnh sát điều

tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh không xử lý hình sự là có căn cứ.

Đối với Nguyễn Thị Ngọc Đ đã có hành vi dùng vỏ chai bia là hung khí

nguy hiểm gây thương tích cho Bùi Th với tỷ lệ thương tật 01%. Ngày 18/5/2021,

bị cáo Bùi Th có đơn không yêu cầu xử lý hình sự đối với Nguyễn Thị Ngọc Đ.

Ngày 11/6/2021, Cơ quan CSĐT Công an Thành phố Hồ Chí Minh đã ra Quyết

định đình chỉ điều tra vụ án hình sự đối với bị can và Quyết định đình chỉ điều tra

vụ án hình sự đối với bị can Nguyễn Thị Ngọc Đ theo điểm a khoản 1 Điều 230 và

khoản 2 Điều 155 của Bộ luật tố tụng hình sự là đúng quy định.

Do Lê Thanh Toàn hiện đang bỏ trốn nên 14/6/2021 Cơ quan Cảnh sát điều

tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh đã ra Quyết định truy nã bị can và Quyết định

tách vụ án hình sự số 637-13 đối với Lê Thanh Toàn, khi nào bắt được sẽ xử lý sau.

Về trách nhiệm dân sự:

Ông Thái Thanh T yêu cầu bị cáo phải bồi thường khoản tiền chi phí điều trị

thương tích là 130.000.000 đồng, tiền bồi thường tổn thất tinh thần là 100.000.000 đồng; tiền cấp dưỡng nuôi con là Thái Duy Khang, sinh năm 2011 và Thái Mai Thi, sinh năm 2014 cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi là 300.000.000 đồng. Tổng cộng là 530.000.000 đồng.

Bị cáo Bùi Th đồng ý bồi thường cho phía bị hại các khoản trên nên Hội

đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo, buộc bị cáo phải bồi thường cho bị hại Thái Thanh T tổng số tiền là 530.000.000 đồng.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:

Đối với 01 áo sơ mi dài tay màu xanh dính nhiều vết máu đã khô không có giá trị sử dụng nên tịch thu, tiêu hủy.

Về án phí: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ

thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 2 Điều 123; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ

luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt Bùi Th 12 (mười hai) năm tù về tội “Giết người”. Thời hạn tù tính từ ngày 04/3/2020.

Căn cứ Điều 48 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Điều 590 Bộ luật dân sự năm 2015 buộc bị cáo Bùi Th phải bồi thường cho ông Thái Thanh T số tiền 530.000.000 (năm trăm ba mươi triệu) đồng.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến

khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

Căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu, tiêu hủy: 01 áo sơ mi dài

tay màu xanh, có logo in chữ Men Fashion ở phần cổ áo bên trong, dính rất nhiều vết máu (đã khô), bị một vết rách ở phía sau áo bên trái. (Theo biên bản giao nhận tang tài vật số NK2020/464 ngày 17/9/2020 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh).

Căn cứ Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết

số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: buộc bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghin) đồng án phí hình sự sơ thẩm và 25.200.000 (hai mươi lăm triệu hai trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2

Luật Thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi bổ sung năm 2014 (sau đây gọi tắt là Luật thi hành án dân sự) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7,

Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được

thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bị cáo, bị hại có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày

kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được

quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án

hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ