- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lục- Mến"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Anh Trần Văn L được ly hôn với chị Hồ Thị Hồng M.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHƯỚC TỈNH BÌNH ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 245/2022/HNGĐ-ST Ngày 26-7-2022 V/v : "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHƯỚC, TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quý Phúc.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Phạm Thành Nghĩa;
2. Ông Nguyễn Vĩnh Mậu.
-Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Tân, là thư ký Tòa án nhân dân huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định.
-Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phước tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Hoài – Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 7 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 184/2022/TLST-HNGĐ, ngày 27 tháng 4 năm 2022, về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 167/2022/QĐXXST-HNGĐ, ngày 08 tháng 7 năm 2022 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Anh Trần Văn L, sinh năm 1984 (Có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt).
Địa chỉ: Thôn P, xã M, huyện V, tỉnh Nam Định.
2. Bị đơn: Chị Hồ Thị Hồng M, sinh năm 1986 (Có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt).
Địa chỉ: Thôn V, xã P, huyện T, tỉnh Bình Định.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Vắng mặt tại Toà hôm nay, nhưng theo đơn khởi kiện ngày 24 tháng 3 năm 2022, trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn anh Trần Văn L trình bày: Trước khi kết hôn, anh và chị Hồ Thị Hồng M có thời gian tìm hiểu nhau 03 năm, rồi tự nguyện tiến tới hôn nhân, đăng ký kết hôn vào ngày 27/4/2015 tại UBND xã M, huyện V, tỉnh Nam Định. Sau khi kết hôn vợ chồng sống tại gia đình chồng ở tỉnh Nam Định. Vợ chồng sống hạnh phúc được thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng không hợp tính nhau, bất đồng quan điểm sống, cả hai không có tiếng nói chung, không quan tâm chia sẻ cùng nhau những công việc của gia đình, thường xuyên cãi vã, nên mâu thuẫn ngày càng trầm trọng. Vì vậy từ năm 2019 chị M đã bỏ đi về nhà cha mẹ chị M ở tỉnh Bình Định sống ly thân với anh từ đó cho đến nay.
Trong khoảng thời gian sống ly thân vợ chồng không quan tâm gì đến nhau, xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, nếu duy trì cuộc hôn nhân này cũng không đem lại hạnh phúc cho cả hai, vì vậy anh yêu cầu Tòa giải quyết cho anh được ly hôn với chị M.
-Về con chung: Vợ chồng anhcó 03 chung là Trần Hồ Phương L, sinh ngày 01/4/2011, Trần Hồ Trúc V, sinh ngày 05/12/2015 và Trần Đức Phúc, sinh ngày 28/01/2021 hiện các con đang ở với chị M. Nay ly hôn anh yêu cầu được trực tiếp nuôi cháu L và V, đồng ý giao cháu Phúc cho chị M trực tiếp nuôi dưỡng, không bên nào cấp dưỡng nuôi con.
-Về tài sản chung: Anh không yêu cầu giải quyết, hiện vợ chồng anh không nợ ai và không ai nợ gì vợ chồng anh.
Vắng mặt tại Tòa hôm nay, nhưng tại bản tự khai ngày 02/6/2022 bị đơn chị Hồ Thị Hồng M trình bày: Chị công nhận về thời gian, điều kiện vợ chồng tìm hiểu, đăng ký kết hôn giữa chị với anh Trần Văn L, như anh L trình bày là đúng. Quá trình chung sống, vợ chồng sống hạnh phúc được thời gian thì xảy ra mâu thuẫn. Nhưng mâu thuẫn xuất phát quan hệ giữa chị và mẹ chồng không được tốt, mẹ chồng không muốn vợ chồng chị sống chung với nhau, nên từ năm 2019 chị đã bỏ nhà đi về phía gia đình chị sống ly thân với anh L cho đến nay, nhưng nay anh L xin ly hôn với chị, chị không đồng ý ly hôn, chị xin Tòa cho vợ chồng đoàn tụ.
Về con chung: Vợ chồng chị có 03 chung là Trần Hồ Phương L, sinh ngày 01/4/2011, Trần Hồ Trúc V, sinh ngày 05/12/2015 và Trần Đức P, sinh ngày 28/01/2021 hiện các con đang ở với chị. Nếu Tòa cho ly hôn, thì chị thống nhất giao cháu L và V cho anh L trực tiếp nuôi dưỡng, còn chị yêu cầu được trực tiếp nuôi cháu P, không bên nào cấp dưỡng nuôi con.
-Về tài sản chung: Chị không yêu cầu giải quyết, hiện vợ chồng chị không nợ ai và không ai nợ gì vợ chồng chị.
-Tại phiên Toà hôm nay đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phước phát biểu: Về thủ tục tố tụng Tòa án đã tiến hành đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
-Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho anh Trần Văn L được ly hôn với chị Hồ Thị Hồng M và giao con Trần Hồ Phương L, sinh ngày 01/4/2011, và Trần Hồ Trúc V, sinh ngày 05/12/2015 cho anh L trực tiếp nuôi dưỡng và giao con Trần Đức P, sinh ngày 28/01/2021 cho chị M trực tiếp nuôi dưỡng, không bên nào cấp dưỡng nuôi con.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Về quan hệ tranh chấp, thẩm quyền giải quyết của tòa án và thủ tục tố tụng:
Đây là vụ án Hôn nhân gia đình tranh chấp về ly hôn, nuôi con thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo qui định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự. Vụ án này có bị đơn là chị Hồ Thị Hồng M đang cư trú tại huyện T, tỉnh Bình Định; Vụ án không có yếu tố nước ngoài, nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định theo qui định tại điểm a, khoản 1 Điều 35 và điểm a, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự; anh L và chị M đều có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt nên căn cứ khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh L và chị M.
Về nội dung vụ án: Anh Trần Văn L và chị Hồ Thị Hồng M tự nguyện tìm hiểu và tiến tới hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại UBND xã M, huyện V, tỉnh Nam Định vào ngày 27/4/2015, nên hôn nhân giữa anh L và chị M là hợp pháp. Anh L xin ly hôn với chị M cả hai không có tiếng nói chung, không quan tâm chia sẻ cùng nhau những công việc của gia đình, thường xuyên cãi vã, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng và từ năm 2019 đến nay vợ chồng không còn chung sống với nhau nữa.
Hội đồng xét xử xét thấy là vợ chồng phải có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng quan tâm, chăm sóc giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ thực hiện các công việc trong gia đình, nhưng trong thời kỳ hôn nhân, giữa anh L chị M thường xuyên cãi vã, cả hai không quan tâm gì đến cuộc sống của nhau, không có mong muốn cùng xây dựng gia đình hạnh phúc, dẫn đến cả hai phải sống ly thân từ năm 2019 đến nay, trong khoảng thời gian sống ly thân vợ chồng cũng không quan tâm gì đến nhau. Mặc dù trong quá trình Tòa thu thập chứng cứ, chị M có đến Tòa trình bày trong bản tự khai xin đoàn tụ, vì mâu thuẫn không lớn có thể hàn gắn, nhưng trong quá trình tòa hòa giải, xét xử vụ án này, chị M đều vắng mặt, chứng tỏ chị M không quan tâm đến việc xây dựng gia đình hạnh phúc thật sự mong muốn tiếp tục chung sống với anh L. Vì vậy có cơ sở xác định, hôn nhân giữa anh L và chị M, đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Nếu duy trì cuộc hôn nhân này cũng không đem lại hạnh phúc cho cả hai. Do đó, áp dụng các Điều 51, 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử cho anh L được ly hôn với chị M.
-Về con chung: Anh L và chị M có 03 con chung Trần Hồ Phương L, sinh ngày 01/4/2011, Trần Hồ Trúc V, sinh ngày 05/12/2015 và Trần Đức P, sinh ngày 28/01/2021. Nay ly hôn cả hai thống nhất giao cháu L và V cho anh L trực tiếp nuôi dưỡng và giao cháu Phúc cho chị M trực tiếp nuôi dưỡng, nguyện vọng của cháu L và V mong muốn được ở với anh L, vì vậy Hội đồng xét xử giao hai cháu L và V cho anh L trực tiếp nuôi dưỡng và giao cháu P cho chị M trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với Điều 81 Luật hôn nhân gia đình năm 2014. Anh L và chị M không ai yêu cầu cấp dưỡng nuôi con, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về tài sản chung: Anh L và chị M không yêu cầu Tòa giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Anh L phải chịu tiền án phí ly hôn theo qui định tại khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xét ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phước: Đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Điều 28, 35, 39, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, 56, 58, 81,82,83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Tuyên xử:
1.Về hôn nhân: Anh Trần Văn L được ly hôn với chị Hồ Thị Hồng M.
2.Về con chung: Giao con chung của anh L và chị M là Trần Hồ Phương L, sinh ngày 01/4/2011 và Trần Hồ Trúc V, sinh ngày 05/12/2015 cho anh L trực tiếp nuôi dưỡng và giao con Trần Đức P, sinh ngày 28/01/2021 cho chị M trực tiếp nuôi dưỡng, không bên nào cấp dưỡng nuôi con.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở; nhưng không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc làm ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con, cũng như việc cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
3.Về án phí ly hôn: Anh Trần Văn L phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) sung ngân sách nhà nước, nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí, mà anh L đã nộp 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0006163, ngày 20/4/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định.
4. Anh Trần Văn L và chị Hồ Thị Hồng M đều vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được niêm yết hoặc tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án,quyết định được thi hành theo quy đinh tại điều 2 luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự,người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án,quyền yêu cầu thi hành án,tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6.7 và 9 luật thi hành án dân sự ,thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định điều 30 luật thi hành án dân sự
| Nơi nhận: -Các đương sự; -VKSND huyện Tuy Phước; -CC THADS huyện Tuy Phước; -UBND xã Minh Thuận; - Lưu hồ sơ vụ án. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Quý Phúc |