vanban.org

Bản án 245/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Mỷ L đối với anh Phan Văn Th.

1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Mỷ L và anh Phan Văn Th. 2. Về con chung: Giao con chung tên Phan Nguyễn Thúy An (nữ), sinh ngày 22/5/2018 cho chị Nguyễn Thị Mỷ L nuôi dưỡng. Anh Phan Văn Th không phải cấp dưỡng nuôi con. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Mỷ Linh - Phan Văn Thanh"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Mỷ L đối với anh Phan Văn Th.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CỜ ĐỎ
THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 245/2020/HNGĐ-ST
Ngày: 24-9-2020
V/v: “Ly hôn giữa chị L
và anh Th”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỜ ĐỎ, THÀNH PHỐ CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Thành Sang

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Xuân Quỹ

2. Ông Nguyễn Hoàng Hải

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Th Huyền – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ.

Trong ngày 24 tháng 9 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cờ Đỏ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 195/2020/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 8 năm 2020 về“Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 209/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 8 năm 2020, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Mỷ L, sinh năm 1997 (có mặt)

Địa chỉ: Ấp Th, xã Tr, huyện C, TP.Cần Thơ.

2. Bị đơn: Anh Phan Văn Th, sinh năm 1996 (vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp Th, xã Tr, huyện C, TP.Cần Thơ.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Mỷ L trình bày:

- Về hôn nhân: Do quen biết, yêu thương và được đồng ý của cha, mẹ gia đình hai bên nên vào năm 2017 chị và anh Phan Văn Th cưới nhau, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Trung An, huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ vào ngày 09/01/2018. Trong thời gian chung sống, vợ chồng sống hạnh phúc đến khoảng tháng 8/2018 thì phát sinh mâu thuẫn do khi về sống chung bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp, không có tiếng nói chung, không có lòng tin lẫn nhau. Khi mâu thuẫn xảy ra, hai bên đã cố gắng hàn gắn nhưng không thành. Đến tháng 6/2019 do mâu thuẫn quá trầm trọng nên chị đã về nhà cha, mẹ chị sống, từ đó vợ chồng ly thân. Trong thời gian ly thân, anh Th không có lần nào đến gặp chị hay gọi điện thoại để yêu cầu được hàn gắn, đoàn tụ. Nay chị nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống hôn nhân như thế không đem lại hạnh phúc cho cả hai nên chị khởi kiện yêu cầu được ly hôn với anh Th.

- Về con chung: Vợ chồng có một con chung tên Phan Nguyễn Thúy An (nữ), sinh ngày 22/5/2018. Từ khi ly thân do chị nuôi dưỡng nên chị yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng, không yêu cầu anh Th cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nghĩa vụ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Phan Văn Th không có mặt trong quá trình giải quyết vụ án và cũng không có văn bản gửi cho Tòa án thể hiện ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Mỷ L.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng:

Thẩm quyền giải quyết: Chị Nguyễn Thị Mỷ L khởi kiện anh Phan Văn Th có địa chỉ tại ấp Th, xã Tr, huyện C, thành phố Cần Thơ với yêu cầu ly hôn và giải quyết việc nuôi con chung sau khi ly hôn nên xác định quan hệ pháp luật là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cờ Đỏ theo quy định tại Điều 28, Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về thủ tục tố tụng: Khi tiến hành xét xử, anh Phan Văn Th được triệu tập nhiều lần nhưng vắng mặt không rõ lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh Th theo Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án:

Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Mỷ L và anh Phan Văn Th cưới nhau vào năm 2017 và có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật nên hôn nhân của anh chị có giá trị pháp lý. Trong thời kỳ hôn nhân, chị L khai, chị và anh Th sống hạnh phúc đến khoảng tháng 8/2018 thì phát sinh mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp, không có tiếng nói chung, không có lòng tin lẫn nhau. Khi mâu thuẫn xảy ra, hai bên đã cố gắng hàn gắn nhưng không thành, ngược lại mâu thuẫn ngày càng trầm trọng dẫn đến phải ly thân từ tháng 6/2019 cho đến nay. Trong thời gian ly thân, anh Th không có lần nào đến gặp chị hay gọi điện thoại để yêu cầu đoàn tụ. Nay chị nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống hôn nhân như thế không đem lại hạnh phúc cho cả hai nên chị khởi kiện yêu cầu được ly hôn với anh Th. Còn anh Th, mặc dù đã được triệu tập đến Tòa án nhiều lần để giải quyết, nhưng anh vẫn không đến và cũng không có bất cứ văn bản nào gửi cho Tòa án để nêu ý kiến của mình. Như vậy, anh Th đã từ bỏ quyền, nghĩa vụ chứng minh của mình. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án để giải quyết. Hội đồng xét xử xét thấy, cuộc sống hôn nhân muốn đem lại hạnh phúc lâu dài cho cả hai vợ chồng và các con sau này thì vợ chồng phải có nghĩa vụ chung sống với nhau, yêu thương, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẽ, thực hiện các công việc gia đình. Tuy nhiên cuộc sống hôn nhân giữa chị L và anh Th có quá nhiều mâu thuẫn, bất hòa không thể hàn gắn, từ khi ly thân cho đến nay, hai bên đều có cuộc sống riêng, không còn quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau và tình cảm vợ chồng cũng không còn. Điều này cho thấy, đời sống chung giữa chị L và anh Th không thể kéo dài, mục đích hôn nhân đã không đạt được. Ngoài ra, anh Th cũng không đến Tòa án để thể hiện ý kiến được hàn gắn, đoàn tụ. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị L.

Về con chung: Chị Nguyễn Thị Mỷ L yêu cầu được nuôi dưỡng con chung tên Phan Nguyễn Thúy An. Xét thấy, Thúy An hiện do chị L nuôi dưỡng và chị L có đủ điều kiện trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục Thúy An. Cho nên, Hội đồng xét xử giao Thúy An cho chị L nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Nguyễn Thị Mỷ L không yêu cầu anh Phan Văn Th cấp dưỡng nuôi con nên anh Th không phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Ghi nhận lời khai của đương sự là không có, khi nào phát sinh tranh chấp sẽ giải quyết thành vụ kiện khác.

Về nghĩa vụ chung: Ghi nhận lời khai của đương sự là không có, khi nào phát sinh tranh chấp sẽ giải quyết thành vụ kiện khác.

Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Mỷ L phải chịu theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ Điều 28; Điều 35; Điều 39; Điều 147; Điều 227; Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Căn cứ Điều 51; Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình;

- Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Mỷ L đối với anh Phan Văn Th.

1.1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Mỷ L và anh Phan Văn Th.

1.2. Về con chung: Giao con chung tên Phan Nguyễn Thúy An (nữ), sinh ngày 22/5/2018 cho chị Nguyễn Thị Mỷ L nuôi dưỡng. Anh Phan Văn Th không phải cấp dưỡng nuôi con.

Dành quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung cho anh Phan Văn Th, không ai được phép cản trở.

Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

1.3. Về tài sản chung: Ghi nhận lời khai của đương sự là không có, khi nào phát sinh tranh chấp sẽ giải quyết thành vụ kiện khác.

1.4. Về nghĩa vụ chung: Ghi nhận lời khai của đương sự là không có, khi nào phát sinh tranh chấp sẽ giải quyết thành vụ kiện khác.

2. Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Mỷ L phải chịu 300.000 đồng. Chuyển tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng chị L đã nộp theo biên lai số 013285 ngày 29 tháng 7 năm 2020 thành án phí.

3. Tuyên án công khai. Đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

4. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ