vanban.org

Bản án 245/2017/HSPT — Hình sự

TAND tỉnh Đồng Tháp Tuyên án 30/08/2017 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 30/08/2017 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Lê Quốc T. Sửa quyết định bản án sơ thẩm về hình phạt.

Tuyên bố: Bị cáo Lê Quốc T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng: khoản 1 Điều 194, điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46 của Bộ luật hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Quốc T - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Lê Quốc T. Sửa quyết định bản án sơ thẩm về hình phạt.
  • Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 194 Bộ luật Hình sự; Điều 249 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN C NG HÒA XÃ H I CH NGHĨA VI˗T NAM
T˟NH Đ˩NG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 245/2017/HSPT
Ngày: 30/8/2017

NHÂN DANH

NƯỚC C NG HÒA XÃ H I CH NGHĨA VI˗T NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN T˟NH Đ˩NG THÁP

Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai

Các thẩm phán:

Ông Tô Phú Đông

Ông Ngô Tấn Lợi

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Phạm Văn Tuấn Em – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.

Ðại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ðồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Thành Sơn - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 8 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 224/2017/HSPT ngày 09 tháng 8 năm 2017 đối với bị cáo Lê Quốc T (M).

Do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 25/2017/HSST ngày 04 tháng 7 năm 2017 của Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc.

Bị cáo có kháng cáo:

LÊ QUỐC T

- Tên gọi khác: M;

- Sinh năm 1990;

- HKTT: Số 195/2, khóm 4, Phường N, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp;

- Nghề nghiệp: Không;

- Trình độ học vấn: 9/12;

- Con ông Vô danh (Không rõ họ và tên) và con bà Lê Thị C, sinh năm 1953;

- Vợ, con: Chưa có;

- Anh, chị, em: Không;

- Tiền sự: Ngày 08/02/2017 bị Ủy ban nhân dân Phường N, thành phố S áp dụng biện pháp giáo dục tại Phường trong thời gian 03 tháng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”.

- Tiền án: Không có.

- Nhân thân: Bản án số 81/2012/HSST ngày 26/9/2012 bị Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xử phạt 05 năm tù về tội “Giết người”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 16/3/2015. Thi hành xong phần trách nhiệm dân sự và án phí ngày 27/11/2012.

- Tạm giữ: Ngày 12/5/2017;

- Tạm giam: Ngày 18/5/2017;

- Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đồng Tháp (có mặt tại phiên tòa).

Ngoài ra, trong vụ án Viện kiểm sát không kháng nghị.

NHʺN THʲY:

Theo cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố S và bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân thành phố S thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 09 giờ ngày 12/5/2017, Lê Quốc T đón xe buýt đi từ thành phố S đến thành phố V. Khi đến khu vực cầu vượt Mỹ Thuận thuộc thành phố V, T xuống xe và gặp một người đàn ông tên N (không rõ họ tên, địa chỉ) mua 3.000.000 đồng ma túy đá. Sau đó người đàn ông tên N chạy xe mô tô khoảng 20 phút trở lại đưa cho T một hộp thuốc lá hiệu Hero, bên trong có 05 bịch ma túy, Tín giấu ma túy trong túi quần rồi đi xe buýt về nhà của T tại số 195/2, Khóm 4, Phường N, thành phố S cất giấu để sử dụng.

Khoảng 11 giờ 30 phút cùng ngày, bị cáo lấy ma túy ra để sử dụng tại phòng bên trong nhà của T, lúc này có Ngô Tấn L và Đặng Tuấn M đến nên cả ba cùng nhau sử dụng ma túy, sau đó L đi về nhà. Đến khoảng 13 giờ 30 phút cùng ngày, L chạy xe mô tô đến nhà của T và cả ba gồm T, L và M tiếp tục sử dụng ma túy. Đến khoảng 14 giờ 30 phút cùng ngày, Công an thành phố S ập vào bắt quả tang và thu giữ của T gồm: 01 bịch nylon màu trắng, bên trong có 05 bịch nylon màu trắng được hàn kín, bên trong chứa tinh thể rắn màu trắng được để trên nệm sát góc tường bên trong phòng ngủ; 02 cái bình, 01 cái nỏ để sử dụng ma túy, 05 quẹt gas; 07 cây kéo; 10 đoạn ống thủy tinh; 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đen; 01 điện thoại di động hiệu iPhone 6 màu trắng; Số tiền 1.500.000 đồng. Tạm giữ của L: 01 điện thoại di động hiệu Samsung màu trắng; 01 xe mô tô hiệu Classico, biển số 66C1-149.29. Tạm giữ của M: 01 điện thoại di động hiệu OPPO màu trắng; 01 xe mô tô hiệu Exciter biển số 66S1-267.49.

Tại bản kết luận giám định số 334/KL-KTHS ngày 15/5/2017 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Tháp kết luận: “Tinh thể rắn có tổng khối lượng 1,9216 (Một phẩy chín hai một sáu) gam chứa trong 05 bịch nylon hàn kín, được niêm phong trong hộp giấy nêu trên gửi đến giám định đều có Methamphetamine”.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 25/2017/HSST ngày 04/7/2017 của Tòa án nhân dân thành phố S đã quyết định:

Tuyên bố: Bị cáo Lê Quốc T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng: khoản 1 Điều 194, điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46 của Bộ luật hình sự:

Xử phạt: Bị cáo Lê Quốc T 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 12/5/2017.

Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 07 tháng 7 năm 2017, bị cáo Lê Quốc T có đơn kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tỉnh Đồng Tháp, đề nghị: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật tố tụng hình sự. Chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Lê Quốc T, sửa quyết định bản án sơ thẩm về hình phạt đề nghị giảm cho bị cáo từ 03 đến 06 tháng tù. Lý do án sơ thẩm chưa nhận định Nghị quyết 41/2017/NQ-QH14 ngày 20 tháng 6 năm 2017 để xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện tài liệu, chứng cứ, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, lời khai bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

XÉT THʲY:

Bị cáo Lê Quốc T về nhân thân vào năm 2012 đã bị Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xử về tội “Giết người” với mức hình phạt 05 năm tù, đã được xóa án tích. Sau khi chấp hành xong hình phạt tù trở về gia đình, bị cáo lại không nghe lời mẹ phụ buôn bán mà bị cáo lại theo bạn bè sử dụng ma túy đá. Vào ngày 08 tháng 02 năm 2017 bị cáo bị UBND phường N, TP Sa Đéc xử lý vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Nhưng bị cáo vẫn không từ bỏ, bị cáo lại tiếp tục đến thành phố V, mua 3.000.000 đồng ma túy đá. Bị cáo đem ma túy về phòng cất giấu và cùng Ngô Tấn L, Đặng Tuấn M sử dụng thì bị bắt quả tang cùng tang vật. Theo kết luận giám định thì tinh thể rắn có tổng khối lượng 1,9216 gam chứa trong 05 bịch nylon hàn kín, thu giữ tại nhà bị cáo có Methamphetamine”.

Bị cáo Lê Quốc T khai nhận, bị cáo mua ma túy về sử dụng chứ không bán cho ai. Nhưng xét thấy bị cáo sống ở TP S thì bị cáo cũng nhận biết được ma túy đá là chất gây tác hại cho con người. Nhà nước độc quyền quản lý mục đích là để bảo đảm sức khỏe cho con người. Bản thân bị cáo không cai nghiện để không làm khổ mẹ khi bị cáo không có cha. Bị cáo lại đi mua ma túy về và kêu bạn đến nhà bị cáo sử dụng chung thì bị bắt quả tang. Hành vi của bị cáo án sơ thẩm xử bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là hoàn toàn có căn cứ. Mức hình phạt 03 năm tù là phù hợp so với hành vi phạm tội của bị cáo, vì cần có thời gian cải tạo như án sơ thẩm mới có đủ điều kiện để bị cáo từ bỏ ma túy trở thành công dân tốt.

Nhưng xét thấy án sơ thẩm khi xét xử chưa nhận định theo khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự 2015, có khung hình phạt từ 01 năm đến 05 năm tù, còn khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999, thì khung hình phạt từ 02 năm đến 07 năm tù. Như vậy điều luật mới có mức hình phạt nhẹ hơn điều luật cũ, nhưng trong bản án không nhận định theo Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20 tháng 6 năm 2017 hướng dẫn để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do đó, chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo và giảm cho bị cáo một phần về hình phạt là phù hợp với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.

Các phần khác của quyết định bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Do kháng cáo của bị cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật tố tụng hình sự.

QUYẾT ĐỊNH:

Chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Lê Quốc T. Sửa quyết định bản án sơ thẩm về hình phạt.

Tuyên bố: Bị cáo Lê Quốc T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng: khoản 1 Điều 194, điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Lê Quốc T 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 12/5/2017.

Các phần khác của quyết định bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Về án phí: Bị cáo Lê Quốc T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

TTM. H I Đ˩NG XÉT X PHÚC THʶM N i nh n:

t

Cỡ chữ