vanban.org

Bản án 244

TAND tỉnh Đồng Tháp Tuyên án 29/08/2017 Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 29/08/2017 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phan Kế N về việc xin được hư ng án treo.

Tuyên b : Bị cáo Phan Kế N phạm tội “Cố ý gây thương tích”. X phạt bị cáo Phan Kế N 06 (Sáu) tháng tù, cho hư ng án treo thời gian th thách 01 (một) n , ể từ ngày tuyên án (ngày 29/8/2017). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Phan Kế N - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác (điều 104 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phan Kế N về việc xin được hư ng án treo.
  • Căn cứ chính? Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 60 Bộ luật Hình sự
T A N NH N N C NG H A X H CH NGH A V T NAM
T NH Đ NG TH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án s : 244 /2017/HSPT
Ngày: 29-8-2017

NHÂN DANH

N C C NG H A X H CH NGH A V T NAM

T A N NH N N T NH Đ NG TH

V i thành phần Hội đồng ét ử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Ngô Tấn Lợi.

Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Vĩnh

Bà Nguyễn Thị Mai

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà:

Ông Nguyễn Tấn Nghĩa - Cán bộ T a án nhân dân t nh Đ ng Tháp

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên toà:

Bà Trần Huỳnh Bích hượng - iể sát viên

Trong các ngày 17/8/2017 và ngày 29/8/ 7, tại Trụ s Toà án nh n d n t nh Đ ng Tháp, t ph c th vụ án h nh sự thụ l s : 78 7 HSPT ngày 6 tháng 6 n

7 đ i v i bị cáo Phan Kế N.

o có háng cáo của bị cáo Phan Kế N đ i v i bản án h nh sự sơ th s : 14 7 HSST ngày 12 tháng 5 n

7 của Toà án nh n d n huyện C.

Bị cáo có kháng cáo:

Phan Kế N, sinh n

99 ;

Nơi đ ng H TT và chổ : Ấp T, xã T1, huyện C, t nh Đ ng Tháp;

Nghề nghiệp: Thợ hàn; Tr nh độ học vấn: 9/12;

Qu c tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không;

Tiền án, tiền sự: Không;

Con ông: Phan Huỳnh T2, sinh n 1968; Con bà: Phan Thị Thu H, sinh n 1969; Anh, chị, em ruột: Không có;

Tạm giữ, tạm giam: Không; Áp dụng biện pháp ng n chặn cấ đi hỏi nơi cư tr ; Bị cáo đang tại ngoại và có mặt tại phiên tòa.

Ngoài ra, trong vụ án người bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không kháng cáo và Viện kiểm sát không kháng nghị.

NH N TH :

Theo bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện C và bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện C thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do nghi ngờ bà Phan Thị Thu H có hành vi làm vợ ch ng bà Trần Thị B mâu thu n v i nhau, nên vào lúc 14 giờ ngày 16/10/2016 bà Trần Thị B cùng Trần Thị B1 (em ruột), Huỳnh Thị Ngọc M, Huỳnh Thị Trúc L (con ruột) và Phạ Đ ng P (con rễ) cùng nhau đến Ki- t bán tạp hóa của bà Phan Thị Thu H thuộc T, T1, huyện C, t nh Đ ng Tháp để hỏi chuyện thì xảy ra cự cãi. Những người trong nhóm của bà Trần Thị B dùng những lời lẽ thô tục ch i, n đ đạc vào trong Ki- t và đ i đánh bà H nên bà H đến Công an xã T1 trình báo. Lúc này Phan Kế N là con ruột của bà Phan Thị Thu H đến nơi để xem sự việc thì tiếp tục xảy ra cự cãi v i nhó người bà Trần Thị B, tức giận N nhặt một con dao bằng kim loại (loại dao r ng cưa dùng để chặt nư c đá) trong Ki- t của bà H rượt đuổi nhó người bà B. hi đó, bà Trần Thị B1 và anh Phạ Đ ng P cũng nhặt một khúc gỗ hình chữ T (dùng để tra cán len) đánh trả lại nhưng hông tr ng N, sau đó anh P và chị Trúc L đi lùi lại Ki- t của bà Lê Thị Kim H1 cách Ki- t của bà H 08m thì cả hai bị té ngã, thấy vậy N tiếp tục dùng dao chém P nhưng tr ng vào g i phải của Trúc L gây thương tích Sau đó N tiếp tục rượt theo Huỳnh Thị Ngọc M th được mọi người can ng n Ngày 6 10/2016, Huỳnh Thị Trúc L có đơn yêu cầu x lý hình sự đ i v i Phan Kế N. Tại Cơ quan điều tra Phan Kế N đã thành h n khai nhận hành vi phạm pháp của mình.

Tại bản kết luận giá định pháp y s 399/TgT-TTPY ngày 01/12/2016 của Trung tâm pháp y thuộc S y tế t nh Đ ng Tháp kết luận t lệ thương tật của chị Huỳnh Thị Trúc L như sau: Sẹo vết thương phần mền trư c g i phải s lượng sẹo ít ích thư c l n, sẹo lành, t lệ thương tật 8%, tổn thương trên do vật có cạnh sắc nhọn gây nên.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã tạm giữ của bà Phan Thị Thu H các tang vật g m: một con dao bằng sắt h nh r ng cưa, phần cán và lưỡi dao đã tách rời, phần lưỡi dài 50cm, rộng nhất 07cm, phần cán hình tròn dài 14,7cm, đường kính 03cm; hai khúc gỗ tròn, có một đầu hình chữ “T”, ột đầu được vu t nhọn, trong đó ột khúc có chiều dài 96c , đường ính 3,5c , đoạn chữ “T” dài 9,5cm; một khúc có chiều dài

c , đường ính 3,5c , đoạn hình chữ “T” dài 10cm; b n mảnh vỡ của cái tô bằng sành. Phan Thị Thu H không yêu cầu nhận lại s tài sản trên.

Tạm giữ và trao trả cho Phạ Đ ng P điện thoại di động Iphone 5S màu vàng nhạt đã phai àu, bị bể mặt kính màn hình. Phạ Đ ng P khai trong lúc bị N đuổi đánh t ngã, điện thoại P để trong túi quần nên bị cấn bể màn hình. Hiện anh Phạm Đ ng P đã nhận tài sản, không yêu cầu x lý và không yêu cầu Phan Kế N phải b i thường. Chị Huỳnh Thị Trúc L cũng hông yêu cầu Phan Kế N phải b i thường thiệt hại.

Qua điều tra ác định, khi bị Phan Kế N dùng dao ch g y thương tích vào ngày 16/10/2016, chị Huỳnh Thị Trúc L đang ang thai được khoảng 01 tháng (có phiếu siêu âm chị L cung cấp).

Ngoài ra, bà Phan Thị Thu H còn khai sau khi xảy ra sự việc bà H phát hiện bị mất s tiền 3

đ, s tiền này bà H để bên trong ki- t trư c hi đến Công an xã T1 trình báo sự việc o hông ác định được ai lấy, nên bà H không yêu cầu x l và cũng hông yêu cầu b i thường.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 14/2017/HSST ngày 12 tháng 5 năm 2017, Toà án nhân dân huyện C đã quyết định:

Tuyên b : Bị cáo Phan Kế N phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Áp dụng điểm a khoản Điều 4, điểm h, p khoản 1 khoản 2 Điều 46 điểm h khoản Điều 48 của Bộ luật Hình sự;

X phạt bị cáo Phan Kế N 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành hình phạt.

Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 9 tháng 5 n

7, bị cáo Phan Kế N có đơn háng cáo v i nội dung in hư ng án treo.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiể sát đề nghị Hội đ ng xét x : C n cứ điểm đ khoản 1 Điều 249 Bộ luật t tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phan Kế N về việc xin được hư ng án treo, s a quyết định của bản án hình sự sơ th m, do bị cáo N đã cung cấp thêm tình tiết m i có cơ s để được xem xét cho bị cáo được hư ng án treo ngoài các tình tiết đã được Tòa án cấp sơ th m xem xét, giải quyết như bị cáo cung cấp biên lai thu tiền s 013151 ngày 28/8/2017 của cơ quan Chi cục thi hành án dân sự huyện C, t nh Đ ng Tháp về việc bị cáo tự nguyện khắc phục hậu quả, b i thường thiệt hại cho người bị hại

đ, bị cáo có nhân thân t t, có nơi cư tr ổn định, việc không bắt bị cáo đi chấp hành hình phạt tù không ảnh hư ng đến việc đấu tranh và phòng ch ng tội phạ , nên đề nghị HĐXX áp dụng Điều 60 Bộ luật hình sự cho bị cáo N được hư ng án treo, thời gian th thách là n .

C n cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được th m tra tại phiên tòa phúc th ; c n cứ vào kết quả tranh luận tại phiên t a, trên cơ s e

t đầy đủ, toàn diện tài liệu, chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia t tụng khác,

XÉT TH Y:

Bị cáo Phan Kế N là người đã thành niên, bản th n chưa có tiền án, tiền sự, ch vì bênh vực mẹ bị cáo là bà Phan Thị Thu H khi có mâu thu n v i gia đ nh bà Trần Thị B, bị cáo không kiềm chế bản th n đã thực hiện hành vi phạm tội c ý gây thương tích cho chị Huỳnh Thị Trúc L như sau: Vào lúc 14 giờ ngày 16/10/2016 khi nghe tin bà Trần Thị B, bà Trần Thị B1 (em ruột bà B), chị Huỳnh Thị Ngọc M, chị Huỳnh Thị Trúc L (con ruột bà B) và anh Phạ Đ ng P (con rễ bà B) cùng nhau đến Ki- t bán tạp hóa của bà Phan Thị Thu H thuộc T, T1, huyện C để gây sự và gây gổ v i mẹ bị cáo. Bị cáo đến nơi để xem sự việc thì tiếp tục xảy ra cự cãi v i nhó người bà Trần Thị B, tức giận bị cáo nhặt một con dao bằng kim loại (loại dao r ng cưa dùng để chặt nư c đá) có trong Ki- t của bà H rượt đuổi nhóm người bà B. hi đó, Trần Thị B1 và Phạ Đ ng P cũng nhặt một khúc gỗ hình chữ T (dùng để tra cán len) để đánh trả lại, khi bị cáo dùng dao quơ đuổi theo thì anh P và chị Trúc L đi lùi lại đến Ki- t của bà Lê Thị Kim H1 cách Ki- t của bà H 08m thì cả hai bị té ngã, thấy vậy N tiếp tục dùng dao chém anh P thì anh P giơ thanh gỗ lên đỡ ngang và trúng vào g i phải của chị Trúc L g y thương tích v i tỷ lệ thương tật là 8%. Người bị hại chị Huỳnh Thị Trúc L đã yêu cầu cơ quan tiến hành t tụng x lý hành vi c g y thương tích đ i v i chị.

Hội đ ng xét x xét thấy hành vi của bị cáo N là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến sức khỏe của chị Huỳnh Thị Trúc L được pháp luật bảo vệ, đ ng thời gây ảnh hư ng đến tình hình an ninh, trật tự địa phương, g y ôn ao trong dư luận quần chúng nhân dân. Trong vụ án này lẽ ra bị cáo phải kiềm chế bản thân để có cách ứng x hợp tình, hợp lý và có v n hóa, đằng này ch vì thỏa mãn cơn tức giận của bản thân và để bênh vực cho mẹ bị cáo, bị cáo lại c ý dùng hung khí nguy hiểm là dao bằng sắt h nh r ng cưa để g y thương tích cho chị Trúc L, khi vào thời điểm này chị Trúc L đang ang thai hoảng hơn tháng Do vào thời điể g y thương tích cho chị Trúc L thì bị cáo không biết chị đang ang thai, nên bản án sơ th m không áp dụng tình tiết định hung theo quy định tại điểm d khoản Điều 104 Bộ luật hình sự là phù hợp, v theo quy định điểm e hoản Điều 34 Bộ luật h nh sự n

5 được s a đổi, bổ sung n

7 quy định ch áp dụng t nh tiết định hung về hành vi c g y thương tích đ i v i “...phụ nữ mà biết là có thai...”, đ y là t nh tiết có lợi cho bị cáo, nên cần được áp dụng là phù hợp hoản 3 Điều 7 Bộ luật h nh sự n

5 được s a đổi, bổ sung n

7 và điể b hoản Điều Nghị quyết s 4

7 QH 4 ngày 6 7 của Qu c Hội

Tòa án cấp sơ th đã t bị cáo N về tội “Cố ý gây thương tích” là đ ng người, đ ng tội và áp dụng các tình tiết t ng nặng, giảm nhẹ hình phạt đ i v i bị cáo là có c n cứ. Tại phiên tòa bị cáo đã cung cấp bổ sung Biên lai thu tiền s 013151 ngày 28/8/2017 của cơ quan Chi cục thi hành án dân sự huyện C, t nh Đ ng Tháp về s tiền bị cáo tự nguyện khắc phục hậu quả cho người bị hại là

đ ng, cho thấy bị cáo có ý thức khắc phục hậu quả, b i thường thiệt hại cho bị hại do hành vi của mình gây ra mặc dù bị hại không có yêu cầu bị cáo b i thường, đ y là t nh tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b khoản Điều 46 Bộ luật hình sự. Mặt khác Hội đ ng xét x cũng t thấy bị cáo N phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, đã thành h n hai báo, n n n h i cải, người bị hại cũng có ột phần lỗi đến gây sự v i mẹ bị cáo trư c, bị cáo có nhân thân t t chưa có tiền án, tiền sự, đã từng phục vụ trong qu n đội là quân nhân xuất ngũ, bị cáo có nơi cư tr ổn định, ngoài lần phạm tội lần này bị cáo luôn tôn trọng quy tắc xã hội, chấp hành t t chính sách, pháp luật địa phương; bị cáo có khả n ng tự cải tạo và việc không bắt bị cáo đi chấp hành hình phạt tù không ảnh hư ng đến cuộc đấu tranh phòng, ch ng tội phạ , nên được xem xét áp dụng Điều 60 Bộ luật hình sự cho bị cáo được hư ng án treo.

Từ những nội dung trên, xét đơn háng cáo của bị cáo N về việc in hư ng án treo và t đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa hôm nay là có cơ s , phù hợp pháp luật, nên được Hội đ ng xét x xem xét chấp nhận. o đó s a quyết định bản án sơ th về phần h nh phạt cho bị cáo N được hư ng án treo là phù hợp Đ ng thời ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo Phan Kế N về việc b i thường thiệt hại cho người bị hại chị Huỳnh Thị Trúc L s tiền

đ ng. Chị Trúc L được quyền nhận s tiền này tại Chi cục thi hành án dân sự huyện C, t nh Đ ng Tháp.

o háng cáo của bị cáo N được chấp nhận, nên bị cáo không phải chịu án phí h nh sự ph c th

Bởi các lẽ trên,

C n cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 249 của Bộ luật t tụng hình sự,

QUYẾT ĐỊNH:

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phan Kế N về việc xin được hư ng án treo. S a quyết định bản án sơ th m về hình phạt.

Tuyên b : Bị cáo Phan Kế N phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Áp dụng điểm a khoản Điều 4, điểm b, h, p khoản 1 khoản 2 Điều 46 điểm h khoản Điều 48 và Điều 60 của Bộ luật Hình sự;

X phạt bị cáo Phan Kế N 06 (Sáu) tháng tù, cho hư ng án treo thời gian th thách 01 (một) n , ể từ ngày tuyên án (ngày 29/8/2017).

Giao bị cáo Phan Kế N cho UBND xã T1, huyện C, t nh Đ ng Tháp giá sát và giáo dục bị cáo trong thời gian th thách.

Trường hợp bị cáo Phan Kế N thay đổi nơi cư tr th thực hiện theo quy định tại hoản Điều 69 của Luật thi hành án h nh sự

Chấp nhận sự tự nguyện của bị cáo Phan Kế N về việc b i thường thiệt hại cho người bị hại chị Huỳnh Thị Trúc L s tiền

đ ng. Chị Trúc L được quyền nhận s tiền này tại Chi cục thi hành án dân sự huyện C, t nh Đ ng Tháp.

* Về án phí: Bị cáo Phan ế N không phải chịu án phí h nh sự ph c th

Các phần hác của quyết định bản án sơ th

hông có háng cáo, háng nghị có hiệu lực pháp luật ể từ ngày hết thời hạn háng cáo, háng nghị

Bản án ph c th có hiệu lực pháp luật ể từ ngày tuyên án

Cỡ chữ