- Tranh chấp gì? Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về sức khỏe, tính mạng — án dân sự — "Bà Nguyễn Thị Cẩm T - Bà Nguyễn Ngọc N"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận một kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Ngọc N. Sửa một phần Bản án dân sự sơ thẩm số 66/2025/DS-ST ngày 25/8/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 14 – Cần Thơ.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 244/2026/DS-PT Ngày: 30 – 3 – 2026 V/v Tranh chấp bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
Bà Mạc Thị Chiên.
Các Thẩm phán:
Bà Lê Thị Minh Trang
Bà Hà Thị Phương Thanh.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trí Khương – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ: Ông Tô Hoàng Ơn – Kiểm sát viên.
Trong ngày 30 tháng 3 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ, xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 39/2026/TLPT-DS ngày 16 tháng 01 năm 2026 về việc: “Tranh chấp bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 66/2025/DS-ST ngày 25/8/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 14 – Cần Thơ bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 210/2026/QĐ-PT ngày 09 tháng 02 năm 2026, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Cẩm T, sinh năm: 1987. (vắng mặt)
Địa chỉ: Số E, khu vực T, phường T, quận C, thành phố Cần Thơ (nay là phường C, thành phố Cần Thơ).
2. Bị đơn: Bà Nguyễn Ngọc N, sinh năm: 1989. (có mặt)
Địa chỉ: Số I, ấp P, thị trấn N, huyện C, tỉnh Hậu Giang (nay là xã C, thành phố Cần Thơ).
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Đặng Hoàng Minh P, sinh năm: 1988. (vắng mặt)
Địa chỉ: Tổ A, ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Long An (nay là xã P, tỉnh Tây Ninh).
- Bà Nguyễn Kim P1, sinh năm: 1985. (vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp Đ, thị trấn N, huyện C, tỉnh Hậu Giang (nay là xã C, thành phố Cần Thơ).
Người kháng cáo: Bà Nguyễn Ngọc N.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Cẩm T trình bày:
Bà và bà N, bà P1 là chị em ruột với nhau, còn ông Đặng Hoàng Minh P là bạn của bà Nguyễn Kim P1. Bà làm nghề kinh doanh, mua bán cua và ốc tại nhà ở số E khu V, phường T, quận C, thành phố Cần Thơ. Vào mùng 6 tết năm 2025 bà có khai trương vựa cua, ốc và có đặt làm bảng hiệu thu mua cua và ốc. Một bảng đặt tại nhà và một bảng đặt tại chân cầu C (thị trấn N) để thu mua thêm vì hiện tại bà là trụ cột gia đình phải lo cho cha mẹ và hai con của bà còn rất nhỏ. Vào tối ngày mùng 07/02/2025 (dương lịch) bà Nguyễn Ngọc N có gọi điện thoại cho mẹ bà nói không cho bà mua thêm cua, ốc tại N. Đến ngày 08/02/2025 dương lịch, bà N và bà P1 cùng ông P có đến nhà bà để tranh cãi, và cấm tuyệt đối không cho bà xuống chợ N1. Giữa hai bên có lời qua tiếng lại, trong lúc tranh cãi, bà Nguyễn Ngọc N, và bà Nguyễn Kim P1 tấn công liên tục vào đầu bà. Bà cố gắng né tránh để thoát thân thì ông Đặng Hoàng M P lao vào hành hung bà, liên tiếp tác động vật lý vào vùng đầu, vùng mặt của bà. Bà vùng dẫy chạy thoát thì ông P truy đuổi tiếp tục hành hung bà. Kết quả bà bị thương tích 2% theo kết quả giám định tỷ lệ thương tật. Sau khi bị hành hung, bà phải nhập viện để điều trị và phải chi phí các khoản chi phí sau:
- Tiền viện phí: 1.938.000đồng;
- Tiền tái khám và tiền thuốc: 3.500.000đồng;
- Tiền xe đi lại trong quá trình điều trị: 1.300.000đồng;
- Tiền mất thu nhập: 1.500.000đồng x 5 ngày là 7.500.000đồng;
- Tiền giám định thương tích là 4.135.000đồng.
Tổng cộng là: 18.373.000đồng.
Nay bà yêu cầu giải quyết buộc bà Nguyễn Ngọc N, bà Nguyễn Kim P1, Đặng Hoàng Minh P liên đới bồi thường thiệt hại do đã đánh bà gây thương tích tổng số tiền là 18.373.000đồng.
Bị đơn bà Nguyễn Ngọc N trình bày:
Bà thừa nhận bà, bà T và bà P1 là chị em ruột. Vào khoảng 17 giờ 30 phút ngày 08/02/2025 vợ chồng bà cùng anh P chị P1, con gái bà về thăm ba má. Bà T mới dọn về ở chung nhà ba má tại số E, khu vực T, phường T, quận C, thành phố Cần Thơ được mấy tháng nay. Sau khi về thì bà T từ bên nhà anh ba tên Nguyễn Thạch E khi về đến thì có cự cãi bà T mắng bà P1 “mặt mày thua cái lồn tao, cái lồn tao còn nhìn, chứ mặt mày tao không nhìn” nên bà P1 vừa nói “mày hỗn hả”. Sau đó bà T dùng dao chém bà P1 nên bà mới dùng tay đánh bà T, sau đó bà T dùng chày đâm tiêu đánh đầu bà P1, nên P chồng bà P1 mới chạy vào dùng tay quơ qua trúng bà T, bà T chửi “đụ má mày P”. Ông P nói, mày chửi tao thì được chứ chửi ba má tao thì không được, rồi bà T tiếp tục chửi sau ông đó ông P đánh thêm. Sau vụ việc bà, bà P1, ông P có đến công an phường T, quận C, thành phố Cần Thơ trình báo sự việc. Sau đó, Công an xử phạt hành chính, bà đã đóng 6.500.000đồng, bà P1 đóng phạt 6.500.000đồng, ông P đóng 6.500.000đồng, đều đã nộp phạt xong. Bà T khởi kiện đến Tòa án, bà không đồng ý toàn bộ số tiền yêu cầu bồi thường thiệt hại do sức khoẻ bị xâm phạm, do bà không có lỗi.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Kim P1 trình bày:
Bà thừa nhận bà, bà T và bà P1 là chị em ruột. Vào khoảng 17 giờ 30 phút ngày 08/02/2025 vợ chồng bà cùng bà N về thăm ba mẹ là bà Nguyễn Ngọc H. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bà T xuống địa bàn thị trấn N dựng bảng thu mua cua, ốc giật mối của bà. Giữa bà với bà N có điện thoại nói chuyện với mẹ là bà H kêu bà T xuống gỡ bảng về. Hôm xảy ra xô xát, ba chồng mua được mấy con lươn đồng đem lên cho ba ruột của bà, rồi bà hạn với bà N lên thăm ba mẹ xong rồi lên Cần Thơ chơi. Sau khi về đến nhà, bà T tỏ thái độ không như lúc đầu đồng ý dỡ bảng thu mua. Bà nói nếu không dỡ bảng thu mua tại địa bàn thị trấn N thì mai mốt gặp bà T ở đâu đánh đó. Rồi bà T cầm dao đòi chém bà. Thấy vậy bà N xông vô kèm tay bà T lại, ông P bay vô giật cây dao ra, sau khi bị bà N giật dao lại bà T qua cắn vô đầu gối bà, bà T chửi bà nhiều lời khiếm nhã rồi bà T buông ra giật cây chày, ông P nhảy vô giật cây chày lại thì bà T giằng lại thì ông P đấm bằng tay vào mặt bà T 02 cái, bà T chảy máu đầu là do ông P đánh bà T bằng cù chỏ xước ngang nên chảy máu đầu. Bà đánh bà T bằng tay 01 cái vào mặt bà T. Lúc đó chỉ có mặt mẹ là bà H chứng kiến, không có ai khác. Sau đó, bà H và Nguyễn Thạch E là người đưa bà T đi bệnh viện. Bà T không có nằm bệnh viện điều trị mà chỉ vô băng vết thương rồi về. Vụ việc đã được công an phường T, quận C, thành phố Cần Thơ xử phạt hành chính, bà đã đóng 6.500.000đồng, bà N đóng phạt 6.500.000đồng, ông P đóng 6.500.000đồng, đã nộp phạt xong. Nay bà không đồng ý bồi thường theo yêu cầu của nguyên đơn.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đặng Hoàng Minh P trình bày: Ông là chồng của bà Nguyễn Kim P1, ông thống nhất với lời trình bày của bà P1. Nay ông không đồng ý bồi thường theo yêu cầu của nguyên đơn.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 66/2025/DS-ST ngày 25/8/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 14 – Cần Thơ tuyên xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Nguyễn Thị Cẩm T.
2. Buộc bị đơn Nguyễn Ngọc N và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Kim P1, Đặng Hoàng Minh P có nghĩa vụ liên đới bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm cho nguyên đơn Nguyễn Thị Cẩm T với số tiền 11.785.475đồng
Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng; quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.
Ngày 24/10/2025, bị đơn kháng cáo toàn bộ Bản án sơ thẩm số 66/2025/DS-ST ngày 25/8/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 14 – Cần Thơ. Yêu cầu xem xét về mức buộc bồi thường và trách nhiệm bồi thường của mỗi người trong vụ kiện.
Tại phiên tòa phúc thẩm các đương sự trình bày:
Bị đơn trình bày: Bà không đồng ý việc buộc liên đới bồi thường vì không biết mỗi người bồi thường bao nhiêu, hai người kia địa chỉ không rõ ràng nếu để như vậy bà sẽ bị ảnh hưởng, biết khi nào với thanh toán xong nên đề nghị buộc trách nhiệm của mỗi người. Đối với mức bồi thường bà T thắc mắc không biết ông trưởng khu vực có được quyền xác nhận thu nhập của người dân hay không. Bà không có gì chứng minh thu nhập của bà T là bao nhiêu, cũng không có chứng cứ chứng minh bác bỏ thu nhập của bà T là 500.000đồng/ngày. Bà N cũng xác nhận có đánh bà T nhưng không gây hậu quả mà thương tích của bà T là do ông P.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ phát biểu quan điểm:
Về tố tụng: Từ khi thụ lý đến khi đưa vụ án ra xét xử Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký, và bị đơn đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Đối với nguyên đơn và những người liên quan được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt chứng tỏ những người này chưa chấp hành tốt việc triệu tập của Tòa án.
Về nội dung: Tại phiên tòa phúc thẩm, bị đơn không cung cấp được chứng cứ nào mới để chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của mình. Tuy nhiên, xét thấy số tiền thuốc cấp sơ thẩm đã tính không đúng nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét lại phần tiền thuốc điều chỉnh số tiền theo toa thuốc hợp lệ. Đồng thời việc tuyên trách nhiệm liên đới bồi thường là chưa phù hợp vì trong vụ án này, các đương sự có thể thực hiện nghĩa vụ theo phần nên cần buộc bị đơn và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan thực hiện nghĩa vụ theo phần. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn, áp dụng khoản 2, Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi xem xét các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, qua kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng:
Sau khi xét xử sơ thẩm, bị đơn Nguyễn Ngọc N có đơn kháng cáo vào ngày 24/10/2025 sau khi án tuyên là hai tháng, nguyên nhân do bà N vắng mặt tại phiên tòa, bản án tuyên ngày 25/8/2025 nhưng đến ngày 17 tháng 10 năm 2025 cấp sơ thẩm tống đạt bản án cho bà N. Do đó việc bà N có đơn kháng cáo đúng theo quy định tại các Điều 271, 272, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nên được xem là hợp lệ và được chấp nhận xem xét theo trình tự phúc thẩm.
Xét về sự vắng mặt của nguyên đơn Nguyễn Thị Cẩm T và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Nguyễn Kim P1, Đặng Hoàng Minh P. Tại phiên tòa phúc thẩm những đương sự trên không có mặt mặc dù đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt họ theo quy định tại Điều 296 Bộ Luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Xét kháng cáo của bị đơn Nguyễn Ngọc N: Việc gây thương tích cho bà T là do ông Đặng Hoàng Minh P bản thân bà chỉ dùng tay đánh nên không gây thương tích lớn, không đồng ý mức bồi thường và cũng yêu cầu xác định rõ mức bồi thường của mỗi cá nhân.
Xét về mức bồi thường đối với khoản tiền thuốc: Cấp sơ thẩm căn cứ theo toa thuốc buộc bị đơn và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bồi thường số tiền là 1.938.000đồng là phù hợp. Tuy nhiên, cấp sơ thẩm tiếp tục buộc những người này bồi thường tiền thuốc lần hai với số tiền 1.911.812đồng là không đúng. Bởi lẽ, theo cấp sơ thẩm xác định đây là tiền thuốc tái khám nhưng hóa đơn tiền thuốc trùng với các toa thuốc đã cung cấp lần một cùng số tiền và cùng ngày tháng năm. Cụ thể: các toa thuốc bản photo bút lục từ 18 đến 21 có tổng số tiền là 1.911.812đồng trùng với hóa đơn bản chính bút lục từ số 01 đến 04. Như vậy việc cấp sơ thẩm buộc bị đơn bồi thường 2 lần cho một hóa đơn tiền thuốc là không đúng làm ảnh hưởng đến quyền lợi của bị đơn và những người liên quan.
Đối với khoản tiền chi phí giám định thương tích là 4.135.000đồng, khoản mất thu nhập là 2.500.000 và 1.300.000tiền xe xét thấy câp sơ thẩm chấp nhận là phù hợp với thực tế và chứng cứ mà nguyên đơn cung cấp nên được chấp nhận. Như vậy, bị đơn và bà Nguyễn Kim P1 và ông Đặng Hoàng Minh P có trách nhiệm liên đới bồi thường cho bà Nguyễn Thị Cẩm T các khoản tổng cộng là 9.873.663đồng.
Đối với kháng cáo về trách nhiệm của từng cá nhân trong vụ việc gây thiệt hại sức khỏe cho nguyên đơn. Qua hồ sơ thể hiện có việc bà Nguyễn Ngọc N, bà Nguyễn Kim P1 và ông Đặng Hoàng Minh P cùng đánh bà T dẫn đến bà T bị thương tích theo kết quả giám định là 2%. Tuy nhiên, không xác định cụ thể mỗi người gây thương tích là bao nhiêu nên cấp sơ thẩm buộc những người này liên đới bồi thường cho nguyên đơn là chưa phù hợp bởi sẽ khó khăn trong việc thi hành án, hoặc dẫn theo những tranh chấp phát sinh. Xét thấy trong trường hợp này có thể xác định trách nhiệm cụ thể của mỗi người nên cần chia đều phần thiệt hại cho bà N, ông P và bà P1 mỗi người chịu 1/3 của số tiền 9.873.663 đồng tương đương mỗi người bồi thường số tiền là 3.291.221đồng cho nguyên đơn.
Khi mức tiền bồi thường thay đổi thì phần án phí sơ thẩm cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp.
Từ những phân tích trên xét thấy kháng cáo của bị đơn có căn cứ được chấp nhận một phần.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ là có căn cứ, đúng pháp luật nên được chấp nhận.
Về án phí dân sự phúc thẩm: Không ai phải chịu do bản án sơ thẩm bị sửa một phần.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận một kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Ngọc N. Sửa một phần Bản án dân sự sơ thẩm số 66/2025/DS-ST ngày 25/8/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 14 – Cần Thơ.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Nguyễn Thị Cẩm T đối với bị đơn Nguyễn Ngọc N và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Kim P1, Đặng Hoàng Minh P.
2. Buộc bị đơn Nguyễn Ngọc N và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Kim P1, Đặng Hoàng Minh P mỗi người bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm cho nguyên đơn Nguyễn Thị Cẩm T với số tiền 3.291.221đồng (Ba triệu hai trăm chín mươi mốt ngàn, hai trăm hai mươi mốt đồng).
3. Kể từ ngày nguyên đơn có đơn yêu cầu thi hành án nếu người phải thi hành án chậm trả số tiền trên thì hàng tháng còn phải trả cho nguyên đơn số tiền lãi chậm trả tương ứng với số tiền và thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán, lãi suất được áp dụng theo quy định tại Điều 357 và Điều 468 Bộ luật dân sự 2015.
4. Về án phí:
4.1. Án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn Nguyễn Ngọc N và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Kim P1, ông Đặng Hoàng Minh P mỗi người phải chịu là 300.000đồng.
4.2. Án phí dân sự phúc thẩm: Không ai phải chịu. Bà Nguyễn Ngọc N được nhận lại 300.000đồng tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo Biên lai thu số 0007282 ngày 24 tháng 10 năm 2025 tại Thi hành án dân sự thành phố Cần Thơ.
5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án ngày 30 tháng 3 năm 2026.
| Nơi nhận: - VKSND TP. Cần Thơ; - TAND Khu vực 14 – Cần Thơ; - P. THADS Khu vực 14 – Cần Thơ; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Mạc Thị Chiên |