vanban.org

Bản án 244/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Tân Uyên, tỉnh Bình Dương Tuyên án 28/09/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Miều Tsằn L phạm tội “Cướp giật tài sản”.

Về trách nhiệm hình sự: Xử phạt bị cáo Miều Tsằn L 03 (Ba) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 26/11/2022. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Cướp giật tài sản - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Miều Tsằn L phạm tội “Cướp giật tài sản”.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ TÂN UYÊN
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 244/2023/HS-ST
Ngày 28-9-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Đình Hưởng.

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Ông Huỳnh Sơn Tây;

2/ Ông Nguyễn Văn Thảo.

- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Thuyến - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Trương Văn Thế - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 244/2023/TLST-HS ngày 14 tháng 9 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 241/2023/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 9 năm 2023 đối với bị cáo:

Miều Tsằn L, sinh năm 2000; tại tỉnh Bình Phước; nơi cư trú: Thôn Bàu Đĩa, xã P, huyện P, tỉnh Bình Phước; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hoá: 7/12; dân tộc: Hoa; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Miều S và bà Lềnh Lộc M; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt, tạm giữ ngày 26/11/2022, sau đó chuyển sang tạm giam cho đến nay. Có mặt

Bị hại:

1/ Ông Nguyễn Chí C, sinh năm 1994; nơi cư trú: Đường NE8, khu phố M, phường H, thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt

2/ Ông Lê Văn Q, sinh năm 1995; nơi cư trú: A19/27, khu phố B, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1/ Ông Nguyễn Chí Tr, sinh năm 1995; nơi cư trú: Ấp Tân Tiến, xã X, huyện M, Thành phố Hồ Chí Minh. Vắng mặt

2/ Bà Nguyễn Thị Tú Q, sinh năm 1982; nơi cư trú: Khu phố Mỹ Phước 3, phường H, thành phố B, tình Bình Dương. Vắng mặt

3/ Ông Đinh Văn L, sinh năm 1974; nơi cư trú: Số 941 P, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Miều Tsằn L làm thuê và sinh sống tại khu phố 6, phường Uyên Hưng, thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương nhưng không đăng ký tạm trú.

Khoảng 20 giờ ngày 24/11/2022, khi đang đi chơi chùa Hội An tại thành phố mới tỉnh Bình Dương thì L gặp ông Nguyễn Chí C nên cả hai cùng làm quen với nhau. Sau đó, ông C điều khiển xe mô tô biển số 84G1-265.21 chở L về quán ốc 30 thuộc khu dân cư Biconsi thuộc phường Uyên Hưng, thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương để uống bia. Trong lúc uống bia, thấy ông C đã say nên L nảy sinh ý định chiếm đoạt xe mô tô biển số 84G1-265.21 của ông C đem đi bán lấy tiền tiêu xài. Đến khoảng 22 giờ 30 phút, sau khi tính tiền ra về, L nhờ ông C chở ra hướng bờ kè thuộc phường Uyên Hưng để tìm cách chiếm đoạt xe của ông C. Khi ông C chở L đi được một đoạn vì say và bị choáng nên ông C đưa xe mô tô biển số 84G1-265.21 cho L điều khiển. Khi đi đến bờ kè thuộc khu phố 1, phường Uyên Hưng, thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương, ông C kêu L dừng xe lại để ông C đi vệ sinh. Khi thấy ông C đi xuống bờ kè cách vị trí L dừng xe khoảng 5m, lợi dụng ông C đang quay mặt ra bờ sông, không để ý đến L nên L liền điều khiển xe mô tô biển số 84G1-265.21 của ông C chạy đến tiệm cầm đồ An Nam thuộc 941, Phú Riềng Đỏ, phường Tân Bình, thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước gặp ông Đinh Văn L để cầm với giá 27.000.000 đồng. Tại đây, L giới thiệu mình tên là Nguyễn Chí Tr rồi đưa cho ông C một giấy chứng nhận đăng ký xe bản gốc và chứng minh nhân dân mang tên Nguyễn Chí Tr. Khi kiểm tra giấy tờ xe, ông L hỏi xe của ai thì L trả lời là xe của chị mượn cầm đỡ một tháng chuộc lại nên ông L đồng ý viết giấy cầm cố xe và đưa cho L số tiền 27.000.000 đồng.

Ngày 25/11/2022, ông C đến Công an phường Uyên Hưng trình báo sự việc. Sau khi tiếp nhận tin báo, Công an phường Uyên Hưng đã tiến hành truy xét và mời L về trụ sở làm việc. Qua làm việc, L đã thừa nhận toàn bộ hành vi chiếm đoạt xe mô tô biển số 84G1-265.21 của ông C và giao nộp số tiền 15.300.000 đồng, hợp đồng cầm đồ xe mô tô biển số 84G1-265.21.

Công an phường Uyên Hưng tạm giữ: Xe mô tô SH Mode biển số 84G1-265.21; chứng nhận đăng ký xe; Chứng minh nhân dân mang tên Nguyễn Chí Tr; hợp đồng cầm cố xe mô tô biển số 84G1-265.21 (do ông Đinh Văn L giao nộp); căn cước công dân mang tên Miều Tsằn L và số tiền 15.300.000 đồng (do Miều Tsằn L giao nộp).

Công an phường Uyên Hưng đã xác lập hồ sơ ban đầu và chuyển về Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Tân Uyên, Bình Dương để tiếp tục điều tra xác minh theo thẩm quyền.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 159 ngày 30/11/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự xác định trị giá xe mô tô biển số 84G-1265.21 tại thời điểm chiếm đoạt là 27.000.000 đồng.

Ngoài lần phạm tội nêu trên, bị can Miều Tsằn L còn thực hiện hành vi phạm tội Trộm cắp tài sản tại phường Hòa Phú, thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương như sau:

Khoảng 21 giờ 30 phút ngày 21/10/2022, L đi đến chùa Hội An thuộc phường Hòa Phú, TP.Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương để chơi. Tại đây, L gặp và làm quen với ông Lê Văn Q. Sau đó, ông Q đưa xe mô tô nhãn hiệu Honda Vario 125 mang BKS 50Y1 - 734.81 cho L điều khiển chở đi dạo quông khu vực thành phố mới Bình Dương rồi quay lại khu vực sau Chùa Hội An thì dừng lại để ông Q đi sang bên kia đường đi vệ sinh còn L vẫn ngồi trên xe. Lúc này, L nảy sinh ý định chiếm đoạt xe mô tô nhãn hiệu Honda Vario 125 mang BKS 50Y1 - 734.81 để bán lấy tiền trả nợ. Khi thấy ông Q đã đi sang bên kia đường cách L khoảng 08 m thì L nhông chóng điều khiển xe chạy về chợ Hội Nghĩa, thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương rồi vào 01 quán nước để uống nước. Khi vào quán nước, L kiểm tra, phát hiện trong cốp xe có giấy tờ xe, số tiền 3.000.000 đồng nên L lấy 3.000.000 đồng tiền mặt và lên mạng xã hội Facebook thì thấy có trang “Thu mua xe cũ, xe đang trả góp” nên đã nhắn tin liên lạc để bán xe. Sau đó, L đã bán chiếc xe trên cho một nam thông niên (không rõ nhân thân, lai lịch) với giá 19.000.000 đồng. Số tiền bán xe và 3.000.000 đồng L đã tiêu xài hết. Sau khi bị chiếm đoạt xe, ngày 27/11/2022, ông Q đã đến Công an phường Hòa Phú trình báo sự việc.

Tại Kết luận định giá tài sản số 02/KL-HĐĐGTS ngày 05/01/2023 của Hội đồng định giá tài trong tố tụng hình sự kết luận xe mô tô nhãn hiệu Honda Vario, màu sơn cam đen, mang biển số 50Y1-734.81, số máy MH1JM5118MK758413, số khung JM51E1757936 có giá trị là 39.000.000 đồng.

Ngày 20 tháng 3 năm 2023 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương đã ra Quyết định khởi tố vụ án; Quyết định khởi tố bị can đối với Miều Tsằn L. Ngày 12/4/2023, Cơ quan CSĐT Công an thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương đã chuyển hồ sơ vụ án cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.

Xe mô tô biển số 50Y1-734.81 do ông Nguyễn Chí Tr là bạn của Lê Văn Q đứng tên chủ sở hữu, ngày 21/10/2022 ông Tr cho ông Q mượn và bị chiếm đoạt.

Xe mô tô biển số 84G1-265.21 do bà Nguyễn Thị Tú Q (là chị ruột của ông Nguyễn Chí C) đứng tên chủ sở hữu. Ngày 18/12/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương đã ra Quyết định xử lý vật chứng số 80 trả lại xe mô tô biển số 84G1-265.21 cùng giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô cho bà Nguyễn Thị Tú Q.

Về dân sự: Sau khi nhận được tài sản, ông Nguyễn Chí C không yêu cầu gì thêm. Ông Đinh Văn L yêu cầu Miều Tsằn L trả lại số tiền 27.000.000 đồng. Ông Lê Văn Q yêu cầu Miều Tsằn L trả số tiền 39.000.000 đồng giá trị xe mô tô biển số 50Y1 - 734.8 và 3.000.000 đồng tiền mặt trong cốp xe.

Cáo trạng số 264/CT-VKSTU ngày 12/9/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên truy tố bị cáo Miều Tsằn L về tội “Cướp giật tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 171 của Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử:

- Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 171; điểm s khoản

1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt

bị cáo từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm tù.

- Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Miều Tsằn L phải trả lại cho ông Đinh Văn L số tiền số tiền 27.000.000 đồng. Khấu trừ vào số tiền 13.500.000 đồng tạm giữ của bị cáo, bị cáo Miều Tsằn L còn phải trả cho ông Đinh Văn L Số tiền 13.500.000 đồng. Buộc bị cáo Miều Tsằn L phải bồi thường cho ông Lê Văn Q số tiền 42.000.000 đồng.

- Về xử lý vật chứng, biện pháp tư pháp: Trả lại cho bị cáo Miều Tsằn L căn cước công dân mang tên bị cáo; giao cho ông Đinh Văn L số tiền 13.500.000 đồng.

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như cáo trạng truy tố, bị cáo đồng ý trả lại số tiền đã chiếm đoạt cho bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, bị cáo không trình bày lời bào chữa cho mình; lời nói sau cùng, bị cáo nhận thức được hành vi của mình là trái pháp luật, tỏ thái độ ăn năn, hối hận và mong muốn được hưởng sự khoan hồng của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được trông tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì đối với hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố.

Về việc vắng mặt của người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt mặt tuy nhiên quá trình điều tra đã có lời khai đầy đủ, việc vắng mặt của họ không cản trở việc xét xử, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự xét xử vắng mặt những người tham gia tố tụng nêu trên.

Về các yếu tố cấu thành tội phạm: Xét thấy lời khai của bị cáo tại phiên tòa thống nhất với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, phù hợp với các tình tiết khách quan của vụ án. Do đó, có đủ cơ sở xác định: Ngày 21/10/2022, tại khu phố 2, phường Hòa Phú, thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương, Miều Tsằn L có hành vi tiếp cận và nhanh chóng chiếm đoạt tài sản là xe mô tô biển số 50Y1-734.81 cùng số tiền 3.000.000 đồng có trong cốp xe của ông Lê Văn Q; ngày 25/11/2022, tại khu phố 1, phường Uyên Hưng, thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương, Miều Tsằn L có hành vi tiếp cận và nhanh chóng chiếm đoạt tài sản là xe mô tô biển số 84G1-265.21 của ông Nguyễn Chí C. Tổng giá trị xe tài sản tại thời điểm chiếm đoạt là 69.000.000 đồng. Thời điểm thực hiện hành vi chiếm đoạt, bị cáo đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vì động cơ tư lợi, thái độ coi thường pháp luật mà cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu của người khác được pháp luật bảo vệ. Hành vi của bị cáo có đủ yếu tố cấu thành tội “Cướp giật tài sản” quy định tại các điểm c khoản 2 Điều 171 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng truy tố cũng như luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội 02 lần nên chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

Về nhân thân của bị cáo: Bị cáo có nhân thân tốt.

Về mức hình phạt áp dụng đối với bị cáo: Xét thấy mức hình phạt đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đối với bị cáo là tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo trên cơ sở cân nhắc tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Ông Nguyễn Chí C đã nhận lại tài sản, không yêu cầu gì khác, Hội đồng xét xử không xem xét. Ông Lê Văn Q yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 42.000.000 đồng, ông Đinh Văn L yêu cầu bị cáo trả lại số tiền 27.000.000 đồng, bị cáo đồng ý.

Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Số tiền 15.300.000 đồng tạm giữ của bị cáo là số tiền bị cáo cầm của ông Đinh Văn L do đó cần giao cho ông L số tiền này. Căn cước công dân mang tên bị cáo không liên quan hành vi phạm tội, cần trả lại cho bị cáo.

Về án phí sơ thẩm: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Miều Tsằn L phạm tội “Cướp giật tài sản”.

1. Về trách nhiệm hình sự:

Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự:

Xử phạt bị cáo Miều Tsằn L 03 (Ba) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 26/11/2022.

2. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 589 của Bộ luật Dân sự,

- Buộc bị cáo Miều Tsằn L phải trả lại cho ông Đinh Văn L số tiền số tiền 27.000.000 đồng. Khấu trừ vào số tiền 13.500.000 đồng tạm giữ của bị cáo, bị cáo Miều Tsằn L còn phải trả cho ông Đinh Văn L Số tiền 13.500.000 đồng (Mười ba triệu năm trăm nghìn đồng).

- Buộc bị cáo Miều Tsằn L phải bồi thường cho ông Lê Văn Q số tiền 42.000.000 đồng (Bốn mươi hai triệu đồng).

Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chậm thi hành thì còn phải trả tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự, tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.

3. Về xử lý vật chứng, biện pháp tư pháp:

Căn cứ Điều 46, 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Trả lại cho bị cáo Miều Tsằn L căn cước công dân mang tên bị cáo;

- Giao cho ông Đinh Văn L số tiền 13.500.000 đồng (Mười ba triệu đồng).

(Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 30/5/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tân Uyên)

4. Về án phí sơ thẩm:

Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án :

- Buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

- Buộc bị cáo phải nộp 3.450.000 đồng (Ba triệu bốn trăm năm mươi nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Bị cáo, đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ