vanban.org

Bản án 244/2022/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Dĩ An, tỉnh Bình Dương Tuyên án 12/08/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lê Văn M phạm tội trộm cắp tài sản.

Xử phạt bị cáo Lê Văn M 02 (hai) năm 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 10/4/2022. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 468, 584, 589 Bộ luật Dân sự; Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 19/9/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Văn M - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Văn M phạm tội trộm cắp tài sản.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ DĨ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƢƠNG
——————————
Bản án số: 244/2022/HS-ST
Ngày 12-8-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Phan Thị Hiền

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Tô Văn Nhung;

2. Bà Nguyễn Thị Kim Hoa.

- Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Hoài Phƣơng, Thƣ ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An tham gia phiên toà: Ông Cao Tấn Ngoan, Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 8 năm 2022 tại Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 216/2021/TLST-HS ngày 21 tháng 7 năm 2022, theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 243/2022/QĐXX-ST ngày 02/8/2022 đối với bị cáo:

Lê Văn M, sinh năm 1995 tại tỉnh Nghệ An; thƣờng trú: Xóm H, xã H, huyện Đ, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Phụ hồ; trình độ học vấn: 9/12; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; con ông Lê Văn T, sinh năm 1966 và bà Hoàng Thị L, sinh năm 1966; có 02 anh chị ruột, lớn sinh năm 1987, nhỏ sinh năm 1989; có vợ Danh Thị Thanh N, sinh năm 1998 và có 01 con sinh năm 2015; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Bản án số 70/2015/HS-ST ngày 25/9/2015, Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Nghệ An xử phạt 07 tháng tù cho hƣởng án treo, thời gian thử thách là 14 tháng về tội trộm cắp tài sản, chấp hành xong thời gian thử thách ngày 25/11/2016, đóng án phí ngày 01/10/2015; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 10/4/2022, có mặt.

- Bị hại:

+ Bà Nguyễn Kim C, sinh năm 1978; cƣ trú: 53/2N ấp Tam Đông 1, xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh. Có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

+ Bà Phạm Thị Ngọc T, sinh năm 1997; thƣờng trú: Ấp H, xã K, huyện C, tỉnh An Giang; tạm trú: 25-27 đƣờng số 9, khu trung tâm hành chính D, khu phố N, phƣờng D, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng. Có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

+ Ông Lê Văn L, sinh năm 1990; thƣờng trú: Ấp G, xã T, huyện D, tỉnh Bình Dƣơng; tạm trú: 25-27 đƣờng số 9, khu trung tâm hành chính D, khu phố N, phƣờng D, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng. Có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

+ Chị Danh Thị Thanh N, sinh năm 1998; thƣờng trú: Xóm H, xã H, huyện Đ, tỉnh Nghệ An; có mặt.

+ Ông Nguyễn Trọng H, sinh năm 1972; thƣờng trú: Khối 5, thị trấn T, huyện T, tỉnh Nghệ An; vắng mặt.

+ Ông Cao Đức S, sinh năm 1984; thƣờng trú: Khu phố H, phƣờng Q, thành phố S, tỉnh Thanh Hóa; có mặt.

+ Ông Nguyễn Minh M, sinh năm 1980; thƣờng trú: 115/13 đƣờng 5, khu phố 2, phƣờng L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:

Lê Văn M làm nghề nghiệp phụ hồ và sống tại 5/90 ấp N, xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh.

Khoảng 20 giờ ngày 09/04/2022, Lê Văn M điều khiển xe mô tô hiệu BOSS, kiểu dáng Dream, màu nâu, biển số 37H6-2960, số khung: PCG0011T-005457, số máy: SD005457 từ nhà trọ tại 5/90 ấp N, xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh đến khu vực phƣờng A, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng ăn tối cùng ngƣời anh quen biết ngoài xã hội tên T (không rõ nhân thân lai lịch). Đến khoảng 23 giờ 30 phút cùng ngày, T đi về còn M điều khiển xe mô tô biển số 37H6-2960 đi một mình đến quảng trƣờng Trung tâm hành chính thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng chơi. Khi đi ngang qua nhà số 25-27 đƣờng số 9, khu phố N, phƣờng D, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng, Lê Văn M thấy cửa cổng đóng, cửa nhà tầng trệt và tầng 1 mở nên M đi đến Quảng trƣờng thành phố D chờ. Đến khoảng 01 giờ 30 phút ngày 10/4/2022, Lê Văn M để xe mô tô biển số 37H6-2960 ở quảng trƣờng rồi đi bộ đến căn nhà số 25-27 đƣờng số 9, khu phố N, phƣờng D, đứng lên đống gạch rồi leo tƣờng rào lên ban công lầu 1 đột nhập vào trong nhà (phòng đầu) chiếm đoạt đƣợc 01 Laptop hiệu Lenovo Legion 5P15IMH05 core i5, 8GB màu đen, 01 điện thoại di động hiệu Oppo Reno 3 Pro màu xanh của chị Phạm Thị Ngọc T. Sau đó, Lê Văn M tiếp tục qua phòng kế bên chiếm đoạt 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 Pro 512GB màu đen, 01 điện thoại di động hiệu Samsung S20FE màu xanh, 01 đồng hồ đeo tay hiệu Orient B930132 và số tiền 850.000 đồng của anh Lê Văn L. Sau khi chiếm đoạt đƣợc tài sản, Lê Văn M tẩu thoát ra ngoài bằng đƣờng cũ rồi đi lại quảng trƣờng lấy xe mô tô biển số 37H6-2960 chạy về phòng trọ tại 5/90 ấp N, xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh cất giấu.

Đến khoảng 03 giờ 00 phút cùng ngày, chị Phạm Thị Ngọc T và anh Lê Văn L thức dậy phát hiện bị mất tài sản, anh L dò tìm theo định vị đƣợc cài đặt trong điện thoại Iphone 12 Pro 512GB, phát hiện bị cáo M đang di chuyển trên tuyến đƣờng quốc lộ 1A hƣớng từ tỉnh Bình Dƣơng về Thành phố Hồ Chí Minh nên truy đuổi theo đến phòng trọ và trình báo Công an xã T, huyện H tiến hành kiểm tra hành chính phòng trọ của M phát hiện vật chứng và đƣa M về trụ sở làm việc.

Căn cứ bản kết luận định giá tài sản số 31 ngày 15/4/2022 của Hội đồng định giá thành phố Dĩ An, kết luận: 01 Laptop hiệu Lenovo Legion 5P15IMH05 core i5, 8GB màu đen trị giá 12.000.000 đồng; 01 điện thoại di động hiệu Oppo Reno 3 Pro màu xanh trị giá 3.500.000 đồng; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 Pro, 512GB màu đen trị giá 16.000.000 đồng; 01 điện thoại di động hiệu Sam Sung S20FE màu xanh trị giá 6.000.000 đồng; 01 đồng hồ đeo tay hiệu Orient B930132 trị giá 1.200.000 đồng.

Căn cứ bản kết luận định giá tài sản số 60 ngày 10/6/2022 của Hội đồng định giá thành phố Dĩ An, kết luận: 01 (một) xe mô tô hai bánh nhãn hiệu BOSS, kiểu dáng Dream, màu sơn nâu, biển số 37H6-2960 số khung: PCG0011T-005457, số máy: SD005457 trị giá 1.000.000 đồng.

Tại cơ quan điều tra, Lê Văn M còn khai nhận đã thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản nhƣ sau: Khoảng 02 giờ ngày 11/3/2022, trên đƣờng đi về phòng trọ tại địa chỉ 5/90 ấp N, xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh, khi đi ngang qua căn nhà số 53/2N ấp T, xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh, Lê Văn M nhìn thấy đèn trong nhà còn sáng, đi bộ vào mảnh đất trống phía sau căn nhà, nhìn thấy 01 khúc cây gỗ dài khoảng 60cm nên lấy bắc lên tƣờng phía sau căn nhà rồi leo lên tƣờng đột nhập vào trong sân sau lầu 1 nhìn thấy cửa phía sau mở sẵn. Lê Văn M đi vào, nhìn thấy chị Nguyễn Kim C đang nằm ngủ trên giƣờng và phía dƣới chân có 01 điện thoại di động hiệu Iphone 13 Pro max màu xanh, 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7 plus màu đen, ở trên đầu giƣờng có 01 cái túi màu đen. Lê Văn M chiếm đoạt 02 điện thoại cất vào trong túi quần bên phải rồi lấy cái túi màu đen đem ra phía sân sau mở ra xem thì phát hiện số tiền 8.000.000 đồng và một số giấy tờ cá nhân. Lê Văn M chiếm đoạt số tiền 8.000.000 đồng cất vào trong túi quần còn cái túi và giấy tờ cá nhân để lại. Sau khi chiếm đoạt tài sản xong, Lê Văn M tẩu thoát ra ngoài theo lối cũ. Đến khoảng 05 giờ 30 phút sáng cùng ngày, Lê Văn M đem tài sản chiếm đoạt đƣợc đến tiệm Đức Sơn 2 địa chỉ 109 đƣờng L, khu phố B, phƣờng A, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng do anh Cao Đức S làm chủ và bán điện thoại di động hiệu Iphone 13 Pro max màu xanh 7.000.000 đồng, điện thoại di động hiệu Iphone 7 plus màu đen 1.500.000 đồng.

Căn cứ bản kết luận định giá tài sản số 37 ngày 28/3/2022 của hội đồng định giá huyện Hóc Môn, kết luận: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 13 Promax màu xanh dƣơng bộ nhớ 256GB có trị giá 25.000.000 đồng; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7 Plus màu đen bộ nhớ 32GB có trị giá 2.500.000 đồng.

Vật chứng thu giữ: 01 Laptop hiệu Lenovo Legion 5P15IMH05 core i5, 8GB màu đen; 01 điện thoại di động hiệu Oppo Reno 3 Pro màu xanh; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 Pro, 512GB màu đen; 01 điện thoại di động hiệu Sam Sung S20FE màu xanh; 01 đồng hồ đeo tay hiệu Orient B930132; số tiền 850.000 đồng

;01 (một) xe mô tô hai bánh nhãn hiệu BOSS (kiểu dáng Dream), màu sơn nâu, biển số: 37H6-2960 (số khung: PCG0011T-005457, số máy: SD005457); 01 quần kaki dài màu đen đã qua sử dụng; 01 áo thun dài tay màu đen đã qua sử dụng.

Tại cáo trạng số 240/CT – VKS ngày 20 tháng 7 năm 2022, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng truy tố bị cáo Lê Văn M về Tội trộm cắp tài sản theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173; điểm r, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Lê Văn M mức án từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù.

Về trách nhiệm dân sự: Ngày 19/4/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Dĩ An ra Quyết định xử lý vật chứng trả cho bị hại Lê Văn L 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 Pro 512GB màu đen, 01 điện thoại di động hiệu Samsung S20FE màu xanh, 01 đồng hồ đeo tay hiệu Orient B930132 và số tiền 850.000 đồng; trả cho bị hại chị Phạm Thị N T 01 Laptop hiệu Lenovo Legion 5P15IMH05 core i5, 8GB màu đen, 01 điện thoại di động hiệu Oppo Reno 3 Pro màu xanh. Bị hại anh Lê Văn L và chị Phạm Thị N T đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì khác nên trách nhiệm dân sự không đặt ra.

Đối với việc chị Nguyễn Kim C khai mất số tiền 24.500.000 đồng nhƣng Lê Văn M chỉ thừa nhận 8.000.000 đồng, ngoài lời khai của chị C về số tiền trên thì không còn tài liệu chứng cứ nào khác. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên buộc bị cáo bồi thƣờng cho bị hại chị Nguyễn Kim C điện thoại di động hiệu Iphone 13 Promax màu xanh dƣơng bộ nhớ 256GB trị giá là 25.000.000 đồng và điện thoại di động hiệu Iphone 7 Plus màu đen bộ nhớ 32GB có trị giá 2.500.000 đồng cùng số tiền 8.000.000 đồng bị chiếm đoạt.

Đối với xe mô tô hai bánh nhãn hiệu BOSS (kiểu dáng Dream), màu sơn nâu, biển số: 37H6-2960 (số khung: PCG0011T-005457, số máy: SD005457) là do anh Nguyễn Trọng H, sinh năm 1972 đứng tên sở hữu. Hiện nay, anh H làm gì ở đâu không rõ. Xe nói trên M mua lại tại một tiệm bán xe cũ tại phƣờng A vào đầu năm 2021, không xác định đƣợc địa điểm với giá 2.000.000 đồng, M đƣa tiền và nhận xe kèm giấy đăng ký xe, không làm thủ tục sang tên. Xe mô tô là tài sản chung của Mạnh và chị Danh Thị Thanh N trong thời kỳ hôn nhân, việc bị cáo dùng xe làm phƣơng tiện thực hiện hành vi phạm tội chị Nhã không biết, chị N yêu cầu đƣợc nhận lại 50% giá trị xe mô tô biển số: 37H6-2960.

Đối với 01 quần kaki dài màu đen đã qua sử dụng, 01 áo thun dài tay màu đen đã qua sử dụng đề nghị tịch thu tiêu hủy.

Đối với anh Cao Đức S là chủ tiệm Đức S 2 khai không mua điện thoại di động hiệu Iphone 13 Promax màu xanh dƣơng bộ nhớ 256GB và điện thoại di động hiệu Iphone 7 Plus màu đen bộ nhớ 32GB nào của Mạnh nên không đủ cơ sở xử lý.

Tại phiên tòa, bị cáo Lê Văn M không tranh luận, đối đáp gì. Tại phần tranh luận, bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nh mức án cho bị cáo.

Tại đơn xin giải quyết vắng mặt, bị hại chị Nguyễn Kim C giá trị chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 13 Promax màu xanh dƣơng bộ nhớ 256GB có trị giá 25.000.000 đồng và điện thoại di động hiệu Iphone 7 Plus màu đen bộ nhớ 32GB có trị giá 2.500.000 đồng cùng số tiền 24.500 đồng.

Tại phiên tòa ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Danh Thị Thành N và anh Cao Đức S không tranh luận đối đáp gì.

Tại đơn xin giải quyết vắng mặt, anh Lê Văn L và chị Phạm Thị Ngọc T không có yêu cầu gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:

Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Dĩ An, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng. Tại cơ quan điều tra, bị hại, ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến gì. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Căn cứ vào lời khai của bị cáo trong quá trình tố tụng, các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở xác định: Bị hại chị C khai, ngày 11/3/2022 bị mất 01 điện thoại hiệu Iphone 13 Promax màu xanh dƣơng bộ nhớ 256GB, 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7 Plus màu đen bộ nhớ 32GB và số tiền 24.500.000 đồng. Tuy nhiên, chị C không có chứng cứ chứng minh về số tiền bị mất. Căn cứ vào lời thừa nhận của bị cáo xác định chiếm đoạt 02 điện thoại và tiền mặt là 8.000.000 đồng. Vì vậy, có cở xác xác định: Vào lúc 02 giờ 00 ngày 11/3/2022, tại nhà số 53/2N, ấp T, xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh, Lê Văn M lén lút chiếm đoạt của chị Nguyễn Kim C 01 điện thoại di động hiệu Iphone 13 Promax màu xanh dƣơng bộ nhớ 256GB trị giá 25.000.000 đồng, 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7 Plus màu đen bộ nhớ 32GB trị giá 2.500.000 đồng và số tiền 8.000.000 đồng; tổng cộng 35.500.000 đồng.

Khoảng 01 giờ 30 ngày 10/4/2022, tại nhà số 25-27 đƣờng số 9, khu phố N, phƣờng D, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng, Lê Văn M lén lút chiếm đoạt 01 Laptop hiệu Lenovo Legion 5P15IMH05 core i5, 8GB màu đen có trị giá 12.000.000 đồng; 01 điện thoại di động hiệu Oppo Reno 3 Pro màu xanh có trị giá 3.500.000 đồng của chị Phạm Thị Ngọc T; chiếm đoạt 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 Pro, 512GB màu đen có trị giá 16.000.000 đồng; 01 điện thoại di động hiệu Sam Sung S20FE màu xanh có trị giá 6.000.000 đồng; 01 đồng hồ đeo tay hiệu Orient B930132 có trị giá 1.200.000 đồng và số tiền 850.000 đồng của anh Lê Văn L, tổng cộng 39.550.000 đồng. Tổng giá trị tài sản bị cáo Mạnh chiếm đoạt ngày 11/3/2022 và ngày 10/4/2022 là 75.050.000 đồng. Nhƣ vậy, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội trộm cắp tài sản theo quy định điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng số 240/CT – VKS ngày 20 tháng 7 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng và luận tội của Kiểm sát viên đề nghị đối với bị cáo là có căn cứ đúng ngƣời, đúng tội và đúng pháp luật.

Tính chất, mức độ của hành vi: Tội phạm do bị cáo thực hiện là nghiêm trọng, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của bị hại đƣợc pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phƣơng. Bị cáo là ngƣời có năng lực trách nhiệm hình sự nhận thức rõ hành vi chiếm đoạt tài sản của ngƣời khác là vi phạm pháp luật, nhƣng vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo mức hình phạt tƣơng xứng với tính chất, mức độ tội phạm đã thực hiện, có xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nh trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội hai lần trở lên là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Tình tiết giảm nh trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra cũng nhƣ tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo tự thú về hành vi chiếm đoạt ngày 11/3/2022 là những tình tiết giảm nh trách nhiệm hình sự quy định tại điểm r, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự áp dụng.

Về nhân thân: Bị cáo đang nuôi con nhỏ, là ngƣời có nhân thân xấu, đã từng bị xét xử về tội trộm cắp tài sản nhƣng không lấy đó làm bài học kinh nghiệm lại thực hiện hành vi phạm tội thể hiện tính không hƣớng thiện của bị cáo.

Trách nhiệm dân sự: Bị hại anh Lê Văn L và chị Phạm Thị Ngọc T đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Bị hại chị Nguyễn Kim C yêu cầu bị cáo bồi thƣờng điện thoại di động hiệu Iphone 13 Promax màu xanh dƣơng bộ nhớ 256GB trị giá 25.000.000 đồng và điện thoại di động hiệu Iphone 7 Plus màu đen bộ nhớ 32GB trị giá 2.500.000 đồng cùng số tiền 24.500.000 đồng. Xét thấy, chị C khai bị mất số tiền 24.500.000 đồng nhƣng không có chứng cứ chứng minh. Căn cứ lời thừa nhận của bị cáo xác định ngày 11/3/2022, bị cáo chiếm đoạt hai điện thoại và số tiền 8.000.000 đồng. Vì vậy, cần buộc bị cáo có trách nhiệm bồi thƣờng cho bị hại chị C chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 13 Promax màu xanh dƣơng bộ nhớ 256GB trị giá 25.000.000 đồng và điện thoại di động hiệu Iphone 7 Plus màu đen bộ nhớ 32GB trị giá 2.500.000 đồng cùng số tiền 8.000.000 đồng; tổng cộng 35.500.000 đồng.

Xét 01 quần kaki dài màu đen đã qua sử dụng, 01 áo thun dài tay màu đen đã qua sử dụng, không còn giá trị cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với anh Cao Đức S là chủ tiệm Đ 2 khai không mua điện thoại di động hiệu Iphone 13 Promax màu xanh dƣơng bộ nhớ 256GB và điện thoại di động hiệu Iphone 7 Plus màu đen bộ nhớ 32GB nào của M nên không có căn cứ xử lý.

Xét xe mô tô hai bánh nhãn hiệu BOSS kiểu dáng Dream, màu sơn nâu, biển số: 37H6-2960 số khung: PCG0011T-005457, số máy: SD005457 là do anh Nguyễn Trọng H, sinh năm 1972 đứng tên sở hữu. Hiện nay, anh H làm gì ở đâu không rõ. Xe nói trên, M mua lại tại một tiệm bán xe cũ tại phƣờng A vào đầu năm 2021, không xác định đƣợc địa điểm với giá 2.000.000 đồng, M đã trả tiền và nhận xe kèm giấy đăng ký xe, không làm thủ tục sang tên. Xe mô tô là tài sản chung của Lê Văn M và chị Danh Thị Thanh N trong thời kỳ hôn nhân, việc bị cáo dùng xe làm phƣơng tiện thực hiện hành vi phạm tội chị Nhã không biết. Vì vậy, tịch thu sung ngân sách nhà nƣớc ½ giá trị xe mô tô và chị N đƣợc nhận lại 50% giá trị xe mô tô biển số: 37H6-2960 tại thời điểm phát mãi.

Hình phạt chính: Hội đồng xét xử quyết định hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo đủ để giáo dục, cải tạo và có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử quyết định hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo nên không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Mức hình phạt nhƣ đề nghị của đại diện Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp nên chấp nhận.

Án phí sơ thẩm: Bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Lê Văn M phạm tội trộm cắp tài sản.

Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173; điểm r, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

- Xử phạt bị cáo Lê Văn M 02 (hai) năm 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 10/4/2022.

2. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 468, 584, 589 Bộ luật Dân sự; Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 19/9/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

Buộc bị cáo Lê Văn M có nghĩa vụ bồi thƣờng cho chị Nguyễn Kim C số tiền 35.500.000 (ba mƣơi lăm triệu năm trăm nghìn) đồng.

Kể từ ngày chị Nguyễn Kim C có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, Lê Văn M còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

3. Về án phí sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 135 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Bị cáo Lê Văn M phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và 1.775.000 (một triệu bảy trăm bảy mƣơi lăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Bị cáo, ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt đƣợc quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại, ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt đƣợc quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc bản án đƣợc tống đạt hợp lệ.

Bản án này đƣợc thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì ngƣời đƣợc thi hành án dân sự, ngƣời phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cƣỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án đƣợc thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ