vanban.org

Bản án 244/2017/HSPT — Hình sự

TAND tỉnh Thanh Hóa Tuyên án 26/12/2017 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 26/12/2017 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Lê Hồng C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”

Áp dụng: Khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46, điểm g khoản 1 Điều 48; Điều 51 Bộ luật hình sự năm 1999; điểm h khoản 2 Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20 tháng 6 năm 2017 về việc thi hành Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13, khoản 3 Điều 7, khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Hồng C phạm tooijj mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lê Hồng C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”
  • Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 100/2015/QH13 Phê duyệt chủ trương đầu tư các…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 244/2017/HSPT
Ngày: 26/12/2017

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA

Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – chủ toạ phiên toà: Ông Dương Xuân Tuấn

Các thẩm phán:

Bà Lê Thị Hiền

Bà Lê Thu Hương

Thư ký phiên toà: Bà Đỗ Kim Oanh - Thư ký Toà án

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà:

Bà Lê Thị Lan - Kiểm sát viên.

Ngày 26/12/2017, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Thanh Hoá, xét xử phúc thẩm công khai vụ án Hình sự thụ lý số 209/2017/HSPT ngày 01/11/2017 đối với bị cáo Lê Hồng C; do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án Hình sự sơ thẩm số 121/2017/HSST ngày 27/9/2017 của Toà án nhân dân huyện Tĩnh Gia , tỉnh Thanh Hoá.

Bị cáo có kháng cáo:

Lê Hồng C - Sinh năm 1982

Nơi ĐKNKTT tại: Thôn H, xã M, huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lao động tự do; văn hoá: 5/12; con ông: Lê Hồng L và bà Trần Thị L; có vợ là Nguyễn Thị T (đã ly hôn); có 01 con, sinh năm 2004. Tiền sự: Không.

Tiền án: Ngày 13/12/2016 Tòa án nhân dân huyện Tĩnh Gia xử phạt 36 tháng tù về tội “Giao cấu với trẻ em”, chưa chấp hành hình phạt.

Nhân thân: Ngày 28/11/2008 Chủ tịch UBND huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa ra Quyết định số 1318/QĐ – UBND áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh.

Ngày 24/01/2009 Chủ tịch UBND quận Hai Bà Trưng, TP. Hà Nội ra Quyết đinh số 3297 – UBND áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở chữa bệnh.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam ngày 17/7/2017 đến ngày 18/8/2017 được thay đổi biện pháp ngăn chặn, bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

NHẬN THẤY:

Theo cáo trạng và bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa, nội dung vụ án tóm tắt như sau:

Lê Hồng C là đối tượng nghiện chất ma túy. Do có nhu cầu sử dụng ma túy nên chiều ngày 17/7/2017 C đi ra khu vực cầu ghép thuộc xã H, huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa tìm mua ma túy để sử dụng. Khi đến nơi C đã mua của một người đàn ông lạ mặt ba gói ma túy với giá 1.200.000đ (một triệu hai trăm nghìn đồng) và được người đàn ông đó cho thêm 02 viên nén hình tròn màu đỏ.

Đến khoảng 19h30” cùng ngày, Lê Hồng C về đến khu vực thôn H, xã M, huyện Tĩnh Gia thì bị công an huyện Tĩnh Gia phát hiện bắt quả tang . Thu giữ 01 túi nilon bên trong có 02 túi nilon màu đen, 01 túi nilon màu hồng bên trong đều chứa chất bột màu trắng ngà dạng cục vụn và 01 túi nilon màu đen bên trong có 02 viên nén hình tròn màu đỏ.

Tại bản kết luận giám định số 1695/ MT – PC54 ngày 19/7/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hoá kết luận:

- Chất bột màu trắng ngà của phong bì niêm phong gửi giám định là chất ma túy có tổng trọng lượng 8,783 gam loại Herôine.

- 02 viên nén màu đỏ của phong bì niêm phong gửi giám định là ma túy có tổng trọng lượng 0,204gam loại methamphetamine.

Tại bản kết luận giám định số 2070/MT- PC54 ngày 26/9/2017 của Phòng kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa kết luận:

- Chất bột màu trắng ngà của phong bì niêm phong gửi giám định có hàm lượng Heroine là 47,94% (bốn bảy phẩy chín bốn phần trăm). Do đó trọng lượng Heroine là 47,94% x 8,783 g = 4,21g Heroine

02 viên nén màu đỏ của phong bì niêm phong gửi giám định có hàm lượng Methamphetamine là 13,72% (mười ba phẩy bảy hai phần trăm). Do đó trọng lượng Methamphetamine là 13,72% x 0,204g = 0,027gam Methamphetamine

Do có hành vi nêu trên, tại Bản án số 121/2017/HSST ngày 27/9/2017 của Tòa án nhân dân huyện Tĩnh Gia đã quyết định: Lê Hồng C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Áp dụng Khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46; điểm g khoản 1 Điều 48; Điều 33, 51 BLHS1999; khoản 3 Điều 7; điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự 2015; Nghị quyết số 41/2017/QH14. Xử phạt Lê Hồng C 05 năm tù; tổng hợp với phần hình phạt chưa chấp hành 02 năm 8 tháng 11 ngày tù tại bản án số 204/2016/HSST ngày 13 tháng 12 năm 2016 của TAND huyện Tĩnh Gia; buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của 02 bản án là 07 năm 8 tháng 11 ngày tù.

Ngoài ra án sơ thẩm cò tuyên xử lý tang vật, tuyên án phí và quyền kháng cáo.

Sau án sơ thẩm xử, ngày 05/10/2017 Lê Hồng C có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa, Lê Hồng C giữ nguyên nội dung đơn kháng cáo.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên thấy việc xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo không có căn cứ nên đề nghị HĐXX giữ nguyên hình phạt của bản án sơ thẩm đối với bị cáo C.

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa , trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, của bị cáo.

XÉT THẤY:

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo khai nhận: khoảng 19h30” ngày 17/7/2017, Lê Hồng C về đến khu vực thôn Hải Lâm, xã Mai Lâm, huyện Tĩnh Gia, bị cáo có cất giữ trong người 02 túi nilon màu đen, 01 túi nilon màu hồng chứa chất bột màu trắng ngà dạng cục vụn và 01 túi nilon màu đen có 02 viên nén hình tròn màu đỏ, đều là chất ma túy thì bị công an huyện Tĩnh Gia phát hiện bắt quả tang người và tang vật.

Nguồn gốc số ma túy trên, bị cáo khai mua của một người đàn ông lạ mặt ở khu vực cầu ghép xã Hải Châu, huyện Tĩnh Gia, với giá 1.200.000đ và còn được người đàn ông đó cho thêm 02 viên nén hình tròn màu đỏ. Mục đích bị cáo mua về để sử dụng, do bị cáo là con nghiện ma túy.

Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với các tài liệu đã thu thập trong giai đoạn điều tra và nhận định của bản án sơ thẩm, nên HĐXX thấy rằng hành vi của Lê Hồng C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” như án sơ thẩm đã quyết định là có căn cứ. Bị cáo C cũng đã nhận thấy tội và chỉ kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

HĐXX thấy hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ quản lý các chất ma túy của nhà nước, gieo giắc thêm tệ nạn xã hội trong nhân dân và làm cho tội phạm ma túy ngày càng gia tăng phát triển; gây hậu quả xấu về nhiều mặt kinh tế, sức khỏe, an ninh xã hội và còn là nguyên nhân phát sinh thêm các tội phạm khác.

Xét kháng cáo của bị cáo thấy rằng: Quá trình điều tra, bị cáo đã thành khẩn khai báo. Hiện tại bị cáo đang có 01 tiền án về tội “Giao cấu với trẻ em” chưa chấp hành và lại có nhân thân xấu, 02 lần bị áp dụng biện pháp bắt buộc đưa vào cơ sở chữa bệnh nhưng sau đó vẫn có thái độ xem thường pháp luật, vẫn tiếp tục phạm tội. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo không có thêm tình tiết gì mới để có thể xem xét kháng cáo của bị cáo xin giản nhẹ hình phat.

Bản án sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất của vụ án, xem xét đầy đủ về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo trong vụ án. Hình phạt như cấp sơ thẩm đã quyết định là phù hợp với tính chất hành vi phạm tội của bị cáo. Vì vậy cần giữ nguyên hình phạt của bản án sơ thẩm đối với Lê Hồng C.

Các nội dung khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, không xem xét.

Vì các lẽ trên,

Căn cứ điểm a Khoản 2 Điều 248 Bộ luật Tố tụng hình sự.

QUYẾT ĐỊNH:

Không chấp nhận kháng cáo của Lê Hồng C.

Giữ nguyên hình phạt của Bản án số 121/2017/HSST ngày 27/9/2017 của Toà án nhân dân huyện Tĩnh Gia đối với Lê Hồng C.

Áp dụng Khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46; điểm g khoản 1 Điều 48; Điều 33, 51 BLHS1999; điểm c Khoản 1 Điều 249; Khoản 3 Điều 7 BLHS 2015; Nghị quyết số 41/2017/QH14; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 về án phí, lệ phí Tòa án.

Xử phạt: Lê Hồng C 05 (năm) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Tổng hợp với phần hình phạt chưa chấp hành 02 (hai) năm 08 (tám) tháng 11(mười một) ngày tù tại bản án số 204/2016/HSST ngày 13/12/2016 của TAND huyện Tĩnh Gia; buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của 02 bản án là 07 (bảy) năm 08 (tám) tháng 11(mười một) ngày tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt giam thi hành án; được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam trước đó là 01(một) tháng 03 (ba) ngày tù (từ ngày 17/7/2017 đến ngày 18/8/2017).

Bị cáo C phải nộp 200.000đ án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án hình sự phúc thẩm, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên ỏn./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Nơi nhận:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

- TAND Cấp cao

- VKSND tỉnh Thanh Hoá

- Công an tỉnh Thanh Hoá

( đã ký )

- Thi hành án tỉnh Thanh Hoá

- bị cáo, Luật sư

- Lưu hồ sơ vụ án

Dương Xuân Tuấn

Viện kiểm sát truy tố bị cáo tại khoản 2 Điều 194, tội phạm rất nghiêm trọng, bị cáo bị kết án về tội có mức hình phạt cao, nhưng Cơ quan điều tra không trưng cầu giám định hàm lượng, trọng lượng chất ma túy trong số vật chứng nói trên. Thông tư 08/2015/TTLT hướng dẫn “…Nếu có căn cứ và xét thấy cần thiết, Tòa án trực tiếp trưng cầu giám định để bảo đảm cho việc xét xử đúng pháp luật…”.Tòa án xét thấy cần thiết phải trưng cầu giám định về hàm lượng, trọng lượng chất ma túy đối với số vật chứng bị thu giữ để có căn cứ xét xử vụ án theo đúng quy định pháp luật.

Sau khi giám định hàm lượng, trọng lượng ma túy còn lại là: 4,21g Heroine và 0,027gam Methamphetamine. Do đó các tình tiết Viện kiểm sát viện dẫn trên không còn là tình tiêt tăng nặng định khung đối với bị cáo.

Hội đồng xét xử thấy hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội phạm tại khoản 1 Điều 194 BLHS.

Theo Điều 298 BLTTHS năm 2015 quy định: ……….

“2. Tòa án có thể xét xử bị cáo theo khoản khác với khoản mà Viện kiểm sát đã truy tố trong cùng một điều luật hoặc về một tội khác bằng hoặc nhẹ hơn tội mà Viện kiểm sát đã truy tố. Do đó việc xét xử bị cáo khoản 1 Điều 194 BLHS là đúng quy định pháp luật.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Lê Hồng C đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp biên bản phạm tội quả tang và các tài liệu chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa. Hành vi phạm tội nêu trên của Lê Hồng C đã phạm vào tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại khoản 1 Điều 194 của Bộ luật hình sự.

Do đó, Hội đồng xét xử TAND huyện Tĩnh Gia có đủ cơ sở kết luận bị cáo Lê Hồng C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự.

Xét tính chất, mức độ và hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng: tội phạm về ma tuý xâm phạm chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước ta về các chất ma tuý. Tội phạm về ma tuý đã gây nhiều hậu quả nghiêm trọng, ảnh hưởng đến sức khỏe con người, gây mất trật tự an toàn xã hội, là nguyên nhân làm phat sinh các tệ nạn xã hội khác. Bản thân bị cáo sa vào tệ nạn nghiện hút, bị HIV giai đoạn cuối. Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm, song đã bất chấp pháp luật, đã có hành vi ''Tàng trữ trái phép chất ma tuý''

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng nên cần phải xử lý nghiêm để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Xét tình tiết tăng nặng: bị cáo đang có tiền án, chưa chấp hành án, đã phạm tội mới, do đó đã tái phạm ( điểm g khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự)

Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo sau khi phạm tội đã thành khẩn khai báo, nên cần áp dụng điểm p, khoản 1 Điều 46 BLHS giảm một phần hình phạt để bị cáo thấy được tính khoan hồng của Pháp luật.

Về hình phạt áp dụng đối với bị cáo: Bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999 có khung hình phạt từ 2 đến 7 năm tù. Tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 có khung hình phạt từ 1 đến 5 năm tù. Như vậy, khung hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 thấp hơn khung hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999. Do đó, thực hiện các quy định có lợi cho người phạm tội tại khoản 3 Điều 7 Bộ luật Hình sự năm 2015, điểm h khoản 2 Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20 tháng 6 năm 2017 về việc thi hành Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13, Hội đồng xét xử xét thấy, cần áp dụng quy định về trách nhiệm hình sự tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 để quyết định hình phạt đối với bị cáo.

Xét nhân thân bị cáo: Mặc dù đã biết và ý thức được hành vi phạm tội của mình, nhưng vẫn cố tình thực hiện tội phạm, trong khi đang hoãn thi hành án phạt. Điều này thể hiện tính chất nguy hiểm của nhân thân người phạm tội là cố tình không tiếp thu biện pháp cưỡng chế của nhà nước để cải tạo giáo dục trở thành người có ích cho xã hội, mà lại có hành vi cố ý phạm tội, thể hiện sự ngoan cố, chống đối pháp luật. Do đó cần có biện pháp xử lý nghiêm minh, mới có tác dụng, cũng cần cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian cần thiết mới đủ thời gian và điều kiện để giáo dục, cải tạo thành người tốt.

Về phần hình phạt: Theo bản án số /HSST ngày 13 tháng 12 năm 2016 của TAND huyện Tĩnh Gia đã tuyên phạt bị cáo 36 tháng tù. Bị cáo chưa chấp hành án, mà phạm tội mới, do đó Toà án quyết định hình phạt của bản án mới và tổng hợp hình phạt của 2 bản án, theo quy định tại Điều 51 của Bộ luật Hình sự, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung.

Bị cáo là người nghiện ma túy, hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nhằm mục đích sử dụng nên không áp dụng hình phạt phụ đối với bị cáo.

Tang vật vụ án: Số lượng 8,761 gam chất bột màu trắng ngà loại Hêrôin và 0,182 gam loại methamphetamine còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì thư do Công an tỉnh Thanh Hóa phát hành, có chữ ký và con dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa. Tuyên tịch thu, tiêu hủy theo khoản 1 điểm a, khoản 2 Điều 76 BLTTHS.

Bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì những lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Lê Hồng C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”

Áp dụng: Khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46, điểm g khoản 1 Điều 48; Điều 51 Bộ luật hình sự năm 1999; điểm h khoản 2 Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20 tháng 6 năm 2017 về việc thi hành Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13, khoản 3 Điều 7, khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13

Xử phạt: Bị cáo Lê Hồng C 5 ( năm) năm tù; tổng hợp với phần hình phạt của bản án số ngày

của TAND huyện Tĩnh Gia mà bị cáo chưa chấp hành: 3 ( ba) năm tù. Tổng hợp hình phạt của hai bản án buộc bị cáo phải chấp hành: 8 ( tám) năm tù. Thời hạn tù tính từ bắt giam thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/7/2017 đến ngày 18/8/2017. ( xem lại ban an trươc da tru thơI gian tạm giam truoc chua)

Tang vật vụ án: Áp dụng khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 76 Bộ luật tố tụng Hình sự; tuyên tịch thu tiêu hủy 8,761 gam chất bột màu trắng ngà loại Hêrôin và 0,182 gam loại methamphetamine, còn lại sau giám định, được niêm phong trong phong bì thư do Công an tỉnh Thanh Hóa phát hành; theo phiếu nhập kho số NK2016/76 ngày 19 tháng 5 năm 2016 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa.

Án phí: Điều 99 Bộ luật tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1, Điều 3; Điều 6 và Điều 3 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội. Bị cáo C phải chịu 200.000đ ( hai trăm ngàn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7,9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo điều 30 Luật Thi hành án dân sự. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

- TAND tỉnh Thanh Hoá;

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

- VKSND huyện Tĩnh Gia;

- Công an huyệnTĩnh Gia;

- Chi cục THA DS huyện Tĩnh Gia;

- Bị cáo;

- Lưu hồ sơ.

Hoàng Thị Hà

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Quang Học

Hoàng Thị Hà Nguyễn Văn Khen Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

- TAND tỉnh Thanh Hoá;

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

- VKSND huyện Tĩnh Gia;

- Công an huyệnTĩnh Gia;

- Chi cục THA DS huyện Tĩnh Gia;

- Bị cáo;

- Lưu hồ sơ.

Hoàng Thị Hà

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Quang Học

Hoàng Thị Hà Nguyễn Thị Quyên

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Quang Học

Hoàng Thị Hà Nguyễn Thị Liên

Cỡ chữ