vanban.org

Bản án 2434/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về bạo lực gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về bạo lực gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Châu Thị Ý T yêu cầu ly hôn Nhan Thanh P"
  • Tòa quyết gì? 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
  • Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 107 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN BÌNH THẠNH
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 2434/2018/HNGĐ-ST
Ngày: 23/11/2018
V/v ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Kiều Trang

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Bùi Thị Cẩm Vân

2. Bà Nguyễn Thị Nhơn

Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thị Thu Hà - Cán bộ Tòa án nhân dân quận Bình

Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh tham gia phiên tòa: Bà

Phan Hoàng Anh – Kiểm sát viên.

Trong ngày 23 tháng 11 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh,

Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số:

0607/2018/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 4 năm 2018 về tranh chấp “Ly hôn” theo

Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 338/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 10 năm

2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số 336/2018/QĐST-HNGĐ ngày 05/11/2018, giữa

các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Châu Thị Ý T, sinh năm 1993;

Địa chỉ: Đường X, phường H, quận Đ, Thành phố Hồ Chí Minh. (Có đơn xin

vắng mặt)

2. Bị đơn: Anh Nhan Thanh P, sinh năm 1987

Địa chỉ: Đường N, Phường Y, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 27/3/2018 và bản tự khai ngày 23/4/2018, nguyên

đơn chị Châu Thị Ý T trình bày: Tôi và anh P tự nguyên kết hôn vào năm 2012, có tổ

chức đám cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Phường Y, quận B, Thành phố

Hồ Chí Minh. Trong thời gian chung sống, anh P không lo làm ăn mà chỉ tụ tập ăn

nhậu, đi chơi, thường xuyên về đánh vợ con. Vợ chồng tôi đã ly thân 2 năm. Nay tôi

nhận thấy không còn tình cảm với anh P, cuộc sống chung không hạnh phúc, mục đích

hôn nhân không đạt nên tôi xin được ly hôn với anh P.

Trong quá trình chung sống, chúng tôi có 02 con chung tên Nhan Châu Thảo N,

sinh ngày 27/10/2013 và Nhan Châu Ngọc M, sinh ngày 23/5/2016. Khi ly hôn tôi sẽ là

người trực tiếp nuôi dưỡng hai trẻ và không yêu cầu anh P cấp dưỡng nuôi con. Chúng

tôi không có tài sản chung và nợ chung.

Tòa án đã tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng

cứ và hòa giải.

Bị đơn vắng mặt trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án.

Tại phiên tòa hôm nay:

Nguyên đơn: Có đơn xin xét xử vắng mặt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh phát biểu về việc chấp hành

đúng quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự của thẩm phán, Hội đồng xét xử, các đương sự và xác định: Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án, các đương sự đã thực hiện các quyền, nghĩa vụ của mình trong quá trình tham gia tố tụng.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Tòa án chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.

Về án phí sơ thẩm: Nguyên đơn phải chịu án phí.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra

tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận định:

Về thẩm quyền: Căn cứ vào lời khai của đương sự thì giữa các bên đã phát

sinh quan hệ tranh chấp “Ly hôn”. Xét việc khởi kiện của chị Châu Thị Ý T phù hợp với quy định tại Khoản 1 Điều 28, Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39, Điều 186 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh.

Về thủ tục tố tụng: Xét bị đơn, anh Nhan Thanh P đã được tống đạt hợp lệ

Thông báo về việc thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Nguyên đơn có đơn xin vắng mặt trong các buổi xét xử của Tòa án. Căn cứ Khoản 2 Điều 227; Khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.

Căn cứ vào Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 137 ngày 11/11/2012 của Ủy

ban nhân dân Phường Y, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh thì quan hệ hôn nhân giữa chị Châu Thị Ý T và anh Nhan Thanh P là quan hệ hôn nhân hợp pháp, phù hợp với các quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình nên được pháp luật bảo vệ.

Xét yêu cầu của đương sự:

Về quan hệ hôn nhân:

Theo đơn khởi kiện và bản tự khai của nguyên đơn, chị Châu Thị Ý T thì từ khi

kết hôn với anh Nhan Thanh P đến nay, anh Phong không đi làm, thường xuyên tụ tập bạn bè ăn nhậu, đánh bài rồi về nhà đánh đập vợ con, mâu thuẫn kéo dài từ năm 2013 đến nay. Sau nhiều lần khuyên răn không được, chị Thiên và hai con đã chuyển về nhà mẹ ruột sống từ năm 2016 đến nay, trong suốt thời gian này anh P vẫn không thay đổi.

Theo xác nhận của Công an phường H, quận Đ thì ngày 24/12/2017 chị T có đến

trụ sở công an phường trình báo việc anh P đã đến nhà mẹ ruột của chị T tại Đường X, phường H, quận Đ, Thành phố Hồ Chí Minh và đánh chị T gây thương tích.

Tòa án đã triệu tập anh P tham gia các buổi hòa giải đoàn tụ tại Tòa án nhưng

anh Phong vẫn vắng mặt không lý do, như vậy có căn cứ cho thấy bị đơn không thực sự

muốn hàn gắn hạnh phúc gia đình. Tình trạng mâu thuẫn giữa nguyên đơn và bị đơn

kéo dài, trầm trọng, anh P có hành vi bạo lực gia đình, mục đích hôn nhân không đạt

được.

Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình 2014, Hội đồng xét xử nhận

thấy yêu cầu ly hôn của nguyên đơn là có cơ sở được chấp nhận.

Về con chung: Chị T và anh P có 02 con chung, chị T xin được trực tiếp

nuôi dưỡng cả 02 trẻ và không yêu cầu anh P cấp dưỡng nuôi con: Hội đồng xét xử xét

thấy: Theo chị T trình bày thì chị và anh P đã sống ly thân hơn 02 năm nay, 02 trẻ hiện

đang do chị trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc. Do vậy để đảm bảo việc sinh hoạt, học tập

của 02 trẻ được ổn định nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị T, giao 02 trẻ

cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho anh P do

chị Thiên không có yêu cầu.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị T khai không có.

Về án phí: Chị T phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000đ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 271 và Điều

273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

- Điều 56, 58, 63, 82, 84, 107, 116 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

- Điều 26 Luật thi hành án dân sự (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014);

- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ

Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ

phí Tòa án.

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn, chị Châu Thị Ý T.

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Châu Thị Ý T được ly hôn anh Nhan Thanh P.

- Về con chung: Giao hai trẻ tên Nhan Châu Thảo N, sinh ngày 27/10/2013 và

Nhan Châu Ngọc M, sinh ngày 23/5/2016 cho chị Châu Thị Ý T trực tiếp nuôi dưỡng.

Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho anh Nhan Thanh P do chị Châu Thị

Ý T không có yêu cầu.

Khi có lý do chính đáng, mức cấp dưỡng và phương thức cấp dưỡng có thể thay đổi.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai

được cản trở. Người không trực tiếp nuôi có lạm dụng việc thăm nom con để cản trở

hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trong nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì

người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Trong trường hợp có yêu cầu của cha mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định có

thể thay đổi người trực tiếp nuôi con.

- Về tài sản chung và nợ chung: Chị Châu Thị Ý T khai không có.

2. Về án phí sơ thẩm: Chị Châu Thị Ý T phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ

thẩm là 300.000đ, số tiền này được cấn trừ vào tiền tạm ứng án phí, lệ phí chị T đã nộp là 300.000đ theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2017/0004284 ngày 09/4/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh.

3. Quyền kháng cáo: Chị Châu Thị Ý T được quyền kháng cáo trong thời hạn

15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Nhan Thanh P được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp quyết định, bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi

hành án dân sự (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án,người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các qui định tại Điều 6,7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014).

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ