- Tranh chấp gì? án hình sự — "ĐINH THỊ L - lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân (điều 331 Luật sửa…"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đinh Thị L. Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 36/2026/HS-ST ngày 16/01/2026 của Tòa án nhân dân Khu vực 7, Thành phố Hồ Chí Minh về phần tội danh, hình phạt, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 243/2026/HS-PT Ngày: 15-4-2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đoàn Thị Hương Giang.
Các Thẩm phán: 1/ Ông Đặng Hồng Sơn.
2/ Bà Nguyễn Huỳnh Mai Tâm Quyên.
Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Huy Phúc – Thư ký Tòa án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Trần Thanh Khánh - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 4 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 114/2026/HSPT ngày 24/02/2026 đối với bị cáo Đinh Thị L, do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 36/2026/HS-ST ngày 16/01/2026 của Tòa án nhân dân Khu vực 7, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bị cáo có kháng cáo:
Đinh Thị L (tên gọi khác: Đinh L); sinh ngày: 02/5/1976; sinh tại: Tỉnh Tuyên Quang; số CCCD: 008176000120, cấp ngày: 16/02/2022, nơi cấp: Cục C2 – Bộ C3; nơi thường trú: D, đường H, Khu phố B, phường B, Quận G (nay là phường T), Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ơ: 1 L, Phường F, quận G (nay là phường A), Thành phố Hồ Chí Minh; dân tộc: Kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: Chủ tịch của Công ty TNHH MTV V1; con ông Đinh Đức T và bà Nguyễn Thị K; có chồng tên Hà Đức G (Đã ly hôn năm 2008) và có 04 người con, con lớn nhất sinh năm 1997, con nhỏ nhất sinh năm 2019; tiền án, tiền sự: không; bị bắt, tạm giam từ ngày 05/02/2025 đến nay. (Có mặt tại phiên tòa)
Ngoài ra, trong vụ án này còn có những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhưng Hội đồng xét xử không triệu tập tham gia phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trong thời gian từ năm 2021 đến năm 2022, các tài khoản Facebook tên “Đàm Ngọc T1”, “Huỳnh Ngọc Thiên H”, “Xóm nhiều chuyện”, “Giác Tịnh N”, “Maria Trần”, “Đinh Thu H1”, “vô Thường”, “Đinh Lan”; các tài khoản Youtuber tên “Kim Mao TV Hoàng N1”, “Hót News”, “Happy Media”, “Biên Niên tiểu sử”, “Lan Đ” có hành vi đăng bài và tổ chức nhiều buổi ghi hình phát trên các trang mạng xã hội có nội dung sai sự thật nhằm xúc phạm đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của bà Nguyễn Phương H2, ông Huỳnh Uy D và gây ảnh hưởng đến Quỹ từ thiện H tỉnh Bình Dương, Công ty Cổ phần Đ1. Do vậy, bà Nguyễn Phương H2 đã làm đơn tố cáo. Trong đó tố cáo Định Thị L1 có 36 video có nội dung sai sự thật nhằm xúc phạm đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của bà Nguyễn Phương H2, ông Huỳnh Uy D.
Quá trình điều tra xác định: Trong năm 2021, Đinh Thị L sử dụng tài khoản Youtube tên “Lan Đ” có số điện thoại 0976863368; tài khoản Youtube tên “Lan Đ” có đường link Youtube.com.@laninh9888, Viber Đ +84976863368 phát tán trên không gian mạng 06 video clip do L tự ghi hình có nội dung sai sự thật nhằm xúc phạm đến nhân phẩm, danh dự, uy tín của bà Nguyễn Phương H2 và ông Huỳnh Uy D, cụ thể như sau:
1. Video phát ngày 07/7/2021: có 85.417 lượt xem, 2.292 bình luận có tựa đề “Phân tích tội trạng của vợ chồng Dũng Lò V và Nguyễn Phương H2, Zalo Đ 0931208805”, thời lượng 99 phút 27 giây, Nội dung: "... Bà Nguyễn Phương H2 hai lần kiện chồng cũ ra Tòa, không chỉ kiện chồng cũ về việc chiếm đoạt vườn cao su, bà Nguyễn Phương H2 đã có tên thật là Nguyễn Thị Thanh T2, Nguyễn Thị Thanh T2 là việt kiều Canada được biết đến với biệt danh là Hằng C, đó báo thì chỉ viết được cái thông tin người ta cung cấp thôi, Thanh T2 từng kết hôn với ông Trần Văn T3 sau đó ly hôn, Trần Văn T3 năm 2006 và sau đó ly hôn vào năm 2007, thì lúc ông D Lò Vôi kỉ niệm 15 năm ngày cưới là là đã hai người Huỳnh Uy D và Nguyễn Phương H2 đã chung sống với nhau từ cái lúc mà đám cưới với ông Trần Văn T3 nha, 2006 đến 2021 mới là 15 năm kỉ niệm ngày cưới và chính miệng ông Huỳnh Uy D đã thú nhận điều đó, thì một năm sau thì bắt đầu li hôn với ông T3, như vậy thì đứa con đó không biết là con của ông T3 hay là con của ông D.
.... Ngày hôm nay tất cả mọi tội danh của bà Nguyễn Phương H2 và những cái tội của ông Huỳnh Uy D thì nó thể hiện rõ này, ngày hôm nay bà Nguyễn Phương H2 khi mà ông D Lò Vôi hồi chiều hôm qua bị quản thúc đặc biệt rồi bà H2 mới dám bước về nhà số F N, phường V, Quận C, Thành Phố Hồ Chí Minh, Việt Nam để livestream khoe kim cương, tại vì giờ không liên lạc được với ông Huỳnh Uy D nữa rồi, cho nên bây giờ bạn nghĩ coi, là một người dân mình đoán đi mình tự suy đoán đi, một người mà mỗi lần lên lên lên Công an để lấy lời khai thì có người của Công an đưa đi, khi đi về nhà sống trong Đại Nam cũng có người Công an ở chung, như vậy thì khác gì…”.
2. Video phát ngày 13/7/2021: có 53.534 lượt xem, 345 bình luận, có tựa đề “Bà Nguyễn Phương H2 không sợ ai chỉ sợ Đinh L, Zalo 0931208805”, thời lượng 05 phút 00 giây. Nội dung: “... là bà H2 hôm nay livestream không có ông Dũng Lò V, chứng tỏ một điều rằng là việc ông Dũng Lò V bị quản thúc đặc biệt tại Đ là có thật, và bé Hẳng H3 được đưa ra cho mẹ ở S để mẹ chăm sóc, vì hằng ngày ba phải làm việc, ba D á, ông Dũng Lò V phải làm việc với cơ quan chứ năng đê đưa những hồ sơ cho Thanh tra Chính phủ để thanh tra toàn bộ Đại Nam, cho nên là bây giờ á L tranh thủ L nói chút xíu thôi, để cho khi mà vào trong cái cuộc họp á không có bị ảnh hưởng tới cái giờ phát sóng của Đ2 mà lúc 17 giờ, ha...
... Tại vì hiện tại Đinh L đã từng nói rồi, là Đinh L nằm mơ thấy có người đã cung cấp cho Đinh L 4 cái đất của dự án EPCO Minh Phụng ở Bình Dương và 1 cái là ở Bình phước, tại lôi ra thì bây giờ vụ việc này không phải liên quan tới chuyện mà thanh tra của công ty cổ phần Đ1 không đâu, mà còn rất là nhiều tội nữa, và thực sự là anh D đang đang bấn loạn đó, anh D đang quản thúc đặc biệt tại khu D, và hàng ngày phải làm việc với cơ quan điều tra về tất cả những sổ sách giấy tờ và ngày hôm nay nếu như mà bà H2 càng ngày càng cứ lấn tới những cái câu chuyện này thì dần dần sẽ giải tán được tất cả cái người hiếu kì, không chửi ai nữa thì dần dần không ai xem cái kênh đó, thì bà ta sẽ nhẹ tội bớt thôi chứ không phải là cái việc gì, cái lệnh bắt của bà Nguyễn Phương H2 diễn ra nếu như bà ta ra ngoài, ngày 17 tháng 7 ,ra ngoài V2, tại vì lí do tại sao mà có lệnh bắt rồi mà không bắt ở trong S mà bắt VTV, bắt ở ngoài”.
3. Video phát ngày 05/7/2021: có 39.771 lượt xem, 1.169 bình luận, có tựa đề “Tại sao bà Nguyễn Phương H2 không dám chửi Đinh Lan ?, Đinh Lan Z 0931208805”, thời lượng 24 phút 31 giây. Nội dung: "... thì như vậy là 2 người này đã vi phạm chế độ 1 vợ 1 chồng, là ông D đang lúc đó với chị T4, mà bà H2 thì lại ông T3, mà hai người sống với nhau rồi rồi rồi cuối cùng con là của ai trời, cũng không biết nữa....”.
4. Video phát ngày 07/7/2021: có 98.717 lượt xem, 2.683 bình luận, có tựa đề “Chính phủ đã vào cuộc vụ bà Nguyễn Phương H2 khi khoe sổ hồng ngày 5/7. Đinh Lan Z 0931208805”, thời lượng 36 phút 09 giây. Nội dung: “.... mà không hiểu tại sao mà bà Nguyễn Phương H2 nó có nhiều cái vốn từ nó đầu đường xó chợ như vậy, thì nghe nghe giang hồ đồn thôi nha, từ các Youtuber khác mà Đinh L nghe được, là xuất thân bà Nguyễn Phương H2 là gái bia ôm, cho nên những cái câu này á thì trong bàn nhậu hay nói vui những câu nói vui nói tục thanh và những cái câu này là những cái câu để bà Nguyễn Phương H2 hầu chuyện những cái khách bia ôm đó, cho nên là bây giờ nói ra nó nó ở trong người rồi, nó nói ra không vấp váp mà dường như là trong cái buổi livestream mấy mấy tiếng đồng hồ bà Nguyễn Phương H2 vẫn nói, nói như là những cái từ này nó có sẵn ở trong đầu nó nằm trong gan ruột nó nằm trong tiềm thức luôn,...”.
5. Video phát ngày 11/7/2021: có 103.216 lượt xem, 2.096 bình luận, có tựa đề “Có lệnh bắt bà Nguyễn Phương H2 phải không ? Đinh Lan Z 0931208805”, thời lượng 26 phút 32 giây. Nội dung: “.... nhưng bây giờ mọi người có chú ý là bà H2 đang đang có vẻ là luống cuống trong cái tình huống là không còn tự tin như ngày xưa nữa, có phải lý do ông Dũng Lò V đã, đang tiến hành, hồi hôm qua nằm mơ nha, đó tối hôm qua nằm mơ, tiến hành các thủ tục li hôn với bà nguyễn Phương H2 vì quá khủng khiếp, không phải li hôn về việc tài chính hay về vấn đề pháp luật, mà li hôn là vì bà H2 là một người phụ nữ lăng loàn, trong thời điểm mà còn chung số với ông D Lò Vôi mà lại lên trên mạng lên ngày 16 tháng 3 năm 2021 trong buổi tọa đàm bà vẫn tự hào là một người phụ nữ chính chuyên không bao giờ mà không bao giờ có lỗi với chồng, như vậy là năm nay năm 2021, mà năm 2020 bà đã cuồn cuộn cuồn cuộn van xin tình yêu ông Y...”.
6. Video phát ngày 22/8/2021: có 42.451 lượt xem, không thể hiện bình luận, có tựa đề “Đinh lan chào ngày mới với khán giả trên kênh nha, Viber Đ +84976863368”, thời lượng 33 phút 10 giây. Nội dung: “... tới bây giờ hơn 5 tháng trôi qua rồi bà Nguyễn Phương H2 giống như là mất hết mất hết tất cả, không còn gì nữa đạo đức phong cách ngay lẫn cả tiền bạc bà H2 cũng không còn, và ông ủng hộ duy nhất là chồng mình cũng không còn ở bên cạnh, thì trước đây bà những cái thủ đoạn mà đưa những người chồng trước vào tù, ban đầu là với một cái ông có 2 người con trai, sanh năm 90 và sanh năm 92 là hai bé bây giờ đang sống với bà H2 á, rồi, ở đường H, quận P, xong sau đó là cũng đưa ông đó vào tù, xong sau đó tới sống với một người đàn ông nữa cũng có con nhưng mà bên gia đình chồng giữ lại đứa bé và đó là người người chồng thứ 2.
Người chồng thứ 3 là Đỗ Đạt G1, sống như vợ chồng, Đỗ Đạt G1 trong vụ Năm C1, thì tên thật của bà Nguyễn Phương H2 tên là Nguyễn Thị Thanh T2, khi sống với Đồ Đ thì trong hồ sơ ghi là tiếp thị bia, thì tất cả những cái gì á thì những cái clip trước đã nói rồi, và các cái kênh Youtube khác đã nói về cái vụ mà tiếp thị bia của bà Nguyễn Phương H2, thì sống với Đỗ Đạt G1 không có hôn thú, cho nên là sau khi mà tố cáo rồi đưa đưa Đỗ Đạt G1 vào tù, tại kiện là Đỗ Đạt G1 chiếm đoạt cái căn nhà, không phải, căn nhà đó là của Đỗ Đạt G1, nhưng tại vì Đỗ Đạt G1 là một người giang hồ nên không đứng, không tiện đứng tên giấy tờ nhà, thì đế cho bà Nguyễn Phương H2 đứng, xong sau đó thì bà Nguyễn Phương H2 cùng mẹ mình là tên gì Nương đó, đã tố cáo về việc là mất 5 cây vàng và về việc Đỗ Đạt G1 chiếm chiếm đoạt 5 cây vàng và căn nhà, đó, căn nhà mà đang đứng tên bà Nguyễn Thị Thanh T2, tên thường gọi là Nguyễn Phương H2, thì trong vụ án đó thì bút lục theo tất cả mọi thứ thì bà con cứ tra và Google Đỗ Đạt G1, Nguyễn Phương H2 sẽ ra cái cái việc đó nha, việc việc tố cáo đó.
Rồi, tới người chồng thứ 4 về mặt luật pháp á, một, hai, ba, bốn, thứ 4 chính là ông Trần Văn T3, thì ông Trần Văn T5 với bà Nguyễn Phương H2 thì bà con cứ tra lên Google sẽ thấy cái vụ án có 200 hiến 360 hecta lô cao su cho cán bộ chiến sĩ T, thì cái vụ đó cuối cùng bà Nguyễn Phương H2 thấy là mình thua cuộc, cho nên là nói là sẽ nếu như thắng cuộc sẽ cho toàn bộ 360 ha cao su ở Bình Phước đó cho cán bộ chiến sĩ T, và sẽ làm mọi thủ tục cho luật sư để mà chuyển cái đó cho cán bộ chiến sĩ Trưòng Sa nhưng mà thực sự tới hồi bà Nguyễn Phương H2 thắng, thắng vụ đó và đưa ông Trần Văn T3 vào tù, thì cái lời hứa 360 hecta cao su đó vẫn không được thực hiện từ năm 2013, rồi, đó là người chồng thứ 4 là ông Trần Văn T3 và đưa ông Trần Văn T3 vào tù.
Người chồng thứ 5 là ông Huỳnh Uy D, ông Huỳnh Uy D thì mọi người đã biết rồi, tất cả những cái việc đó diễn ra như thế này, thì Đinh L nói một điều rằng, việc các clip trước đã nói và bây giờ trên kênh Lan Đinh 2 này Đinh L không nhắc lại chuyện trước... À, sống với ông Trần Văn T3 có một đứa con gái, và sống với ông Huỳnh Uy D có một đứa con trai là bé Huỳnh Hằng H4 mà Đinh L đang dính líu cái vụ pháp luật đó, pháp lí đó…”.
Kết luận giám định ngày 17/10/2024, Sở Thông tin và Truyền thông Thành phố H, kết luận: “06 video clip trên có nội dung bịa đặt, sai sự thật, xúc phạm nghiêm trọng uy tín, danh dự nhân phẩm bà Nguyễn Phương H2 và ông Huỳnh Uy D; đưa lên không gian mạng những thông tin thuộc bí mật cá nhân, bí mật gia đình và đời sống riêng tư trái quy định của pháp luật. Vi phạm các điểm a, b khoản 3 Điều 16; điểm d khoản 1 Điều 17 Luật An ninh mạng năm 2018 và điểm d khoản 1 Điều 5 Nghị định số 72/2013/NĐ-CP ngày 15/7/2013 của Chính phủ về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin trên mạng, đã xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân và gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội”.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H, ban đầu Đinh Thị L khai nhận về nội dung của 06 video clip trên do L ghi hình tại địa chỉ 1 L, Phường F, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh và đăng tải lên kênh Youtube “Lan Đ”. L sử dụng điện thoại và đèn chiếu sáng 03 chân tự quay hình, sau đó chuyển các video về L2, rồi đăng nhập vào tài khoản Y1 và tải video lên kênh Y. Đến nay, L thay đổi lời khai, thừa nhận có ghi hình các phát ngôn các nội dung trên nhưng không phải là người đăng tải.
Về phần dân sự: Bà Nguyễn Phương H2, ông Huỳnh Uy D, Công ty Cổ phần Đại Nam , Quỹ từ thiện Hằng Hữu tỉnh Đ1 không yêu cầu bị cáo Đinh Thị L bồi thường thiệt hại về trách nhiệm dân sự. Về trách nhiệm hình sự, đề nghị xử lý Đinh Thị L theo quy định pháp luật.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 36/2026/HS-ST ngày 16/01/2026 của Tòa án nhân dân Khu vực 7, Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 331, điểm g khoản 1 Điều 52, điểm i khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt bị cáo Đinh Thị L 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù về tội “Lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân”. Thời hạn tù tính từ ngày 05/02/2025.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí, quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 23/01/2026, bị cáo Đinh Thị L có đơn kháng cáo xin xem xét lại toàn bộ nội dung của bản án sơ thẩm và tuyên bị cáo không phạm tội, đồng thời đề nghị xem xét bản Kết luận điều tra mà Điều tra viên giao cho bị cáo có trang cuối không được đóng dấu giáp lai và không có mã QR là Bản kết luận điều tra giả; Cơ quan điều tra bắt bị can để tạm giam, khám xét chỗ ở của bị cáo không đúng quy định của pháp luật và có hành vi ép cung, dùng nhục hình đối với bị cáo; việc Hội đồng xét xử tuyên tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước đối với 01 đầu thu camera ghi hình, 02 điện thoại di động và 01 máy tính xách tay của bị cáo là không đúng quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Bị cáo Đinh Thị L trình bày không đồng ý với bản án sơ thẩm đã xét xử đối với bị cáo và giữ nguyên nội dung kháng cáo.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh sau khi tóm tắt nội dung vụ án và phân tích tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội do bị cáo thực hiện, xét thấy Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử đối với bị cáo Đinh Thị L về tội “Lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân” theo khoản 1 Điều 331 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội. Về kháng cáo của bị cáo, mức hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng đối với bị cáo là phù hợp. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo không cung cấp chứng cứ chứng minh cho nội dung kháng cáo của mình là có căn cứ. Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo và giữ nguyên bản án sơ thẩm.
- Bị cáo Đinh Thị L tự bào chữa như sau:
Việc đưa hai vụ án ra xét xử theo trình tự sơ thẩm và phúc thẩm tại Thành phố Hồ Chí Minh là không đúng thẩm quyền theo quy định của cải cách tư pháp, mà bị cáo cho rằng Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh mới có thẩm quyền xét xử phúc thẩm. Bản Kết luận điều tra mà Điều tra viên giao cho bị cáo có trang cuối không được đóng dấu giáp lai và không có mã QR, nhưng Bản kết luận điều tra trong hồ sơ vụ án lại có mã QR nên bị cáo cho rằng Bản kết luận điều tra bị cáo nhận là giả. Tại phiên tòa sơ thẩm, Kiểm sát viên Trần Thị Hải H5 nói việc áp dụng mã QR mới sau ngày 01/4/2025, nên Kết luận điều tra không cập nhật QR thì bị cáo không đồng ý. Về các thiết bị trong nhà bị cáo gồm đầu ghi hình camera, 02 điện thoại và 01 máy tính xách tay, thì trong máy tính xách tay của bị cáo không có dữ liệu về hành vi vi phạm của bị cáo, mà chỉ có dữ liệu vi phạm của bà Nguyễn Phương H2 và ông Huỳnh Uy D, nên bị cáo được quyền tố cáo hành vi vi phạm của bà H2, ông D. Bị cáo không đồng ý việc Phòng kĩ thuật hình sự Công an Thành phố H kết luận trong điện thoại của bị cáo và đầu ghi hình camera trong nhà bị cáo không thể khôi phục lại được dữ liệu, bởi lẽ trong đầu ghi hình camera tại nhà bị cáo có ghi lại cảnh Công an đánh đập bị cáo. Về hành vi phạm tội, bị cáo khẳng định là bị cáo bị oan, bị cáo không có hành vi đăng tải các video lên các kênh Youtube liên quan đến bà Nguyễn Phương H2 và ông Huỳnh Uy D.
- Đại diện Viện kiểm sát tranh luận, đối đáp với bị cáo:
Những nội dung bào chữa mà bị cáo trình bày đã được làm rõ trong các Bản kết luận điều tra, bản kết luận điều tra bổ sung và Cáo trạng của Viện kiểm sát, ngoài ra trong biên bản làm việc ngày 05/02/2025 thì bị cáo thừa nhận điện thoại bị cáo bị mất vào năm 2022 và bị cáo có hành vi đăng tải 6 video lên mạng xã hội xúc phạm bà Nguyễn Phương H2 và ông Huỳnh Uy D, nên Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân” là đúng quy định của pháp luật.
- Bị cáo tranh luận, đối đáp với Viện kiểm sát: Ngày 05/02/2025, bị cáo bị đánh đập dã man nên bị cáo nhớ nhầm và ghi nhầm là bị mất điện thoại năm 2022, thực tế là bị cáo bị mất điện thoại vào năm 2021.
- Đại diện Viện kiểm sát và bị cáo đều bảo lưu quan điểm và không tranh luận nội dung nào khác.
Trong lời nói sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử trả hồ sơ điều tra bổ sung do bị cáo bị oan.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng:
Về thẩm quyền xét xử:
Tại đơn kháng cáo, trong giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm và tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Đinh Thị L cho rằng Tòa án nhân dân Khu vực 7, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm đối với bị cáo là không đúng thẩm quyền và Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh không có thẩm quyền xét xử phúc thẩm, mà Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân Tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh mới có thẩm quyền xét xử phúc thẩm đối với bị cáo. Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm nhận thấy:
Căn cứ khoản 31 Điều 1 của Luật sửa đổi Bộ luật tố tụng hình sự năm 2025 sửa đổi Điều 268 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định: “Tòa án nhân dân khu vực xét xử sơ thẩm những vụ án hình sự về tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật Hình sự quy định đến 20 năm tù”. Xét, bị cáo Đinh Thị L bị truy tố, xét xử về tội “Lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân” theo quy định tại khoản 1 Điều 331 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 có khung hình phạt cao nhất là 03 năm tù là tội ít nghiêm trọng. Do đó, Tòa án nhân dân Khu vực 7, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm đối với bị cáo Đinh Thị L là đúng thẩm quyền theo quy định của pháp luật. Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 23/01/2026, bị cáo Đinh Thị L có đơn kháng cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 36/2026/HS-ST ngày 16/01/2026 của Tòa án nhân dân Khu vực 7, Thành phố Hồ Chí Minh. Do đó, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm đối với bị cáo Đinh Thị L là đúng thẩm quyền theo quy định tại Điều 344 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Quá trình điều tra, bị cáo Đinh Thị L có khiếu nại về các Bản Kết luận điều tra, Kết luận điều tra bổ sung, Lệnh giam của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H là không đúng nhưng chưa nhận được Kết quả trả lời giải quyết khiếu nại. Bị cáo cho rằng Bản Kết luận điều tra mà Điều tra viên giao cho bị cáo có trang cuối không được đóng dấu giáp lai là Bản kết luận điều tra giả và Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo trên cơ sở Bản Kết luận điều tra giả là không đúng quy định của pháp luật. Ngoài ra, bị cáo cho rằng Cơ quan điều tra đã có hành vi ép cung, dùng nhục hình khi lấy lời khai, hỏi cung bị cáo; Cơ quan điều tra bắt bị cáo để tạm giam cũng như khám xét chỗ ở của bị cáo không đúng quy định của pháp luật. Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm xét thấy tại Biên bản bắt bị can để tạm giam ngày 05/02/2025 có sự chứng kiến của chính quyền địa phương và tại Biên bản khám xét ngày 05/02/2025 tại nhà số A đường L, Phường F, quận G (nay là phường A), Thành phố Hồ Chí Minh thì bị cáo Đinh Thị L, đại diện chính quyền địa phương và người chứng kiến đều có mặt và ký tên xác nhận. Bị cáo khiếu nại nhưng không đưa ra tài liệu, chứng cứ để chứng minh nên không có cơ sở để chấp nhận. Ngoài ra, trong đơn kháng cáo của bị cáo còn trình bày nhiều hành vi vi phạm pháp luật của những người khác nhưng không thuộc phạm vi xét xử của vụ án nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không xem xét.
Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 7, Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên, Thẩm phán, Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 7, Thành phố Hồ Chí Minh trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự và đều hợp pháp.
Đơn kháng cáo của bị cáo Đinh Thị L về nội dung quyền kháng cáo và thời hạn kháng cáo thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận xem xét giải quyết đơn kháng cáo của bị cáo theo trình tự phúc thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Đinh Thị L không thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung của Bản án sơ thẩm. Bị cáo cho rằng mặc dù trong điện thoại của bị cáo có 02 tài khoản Youtube nhưng bị cáo bị mất điện thoại vào đêm ngày 28/6/2021, nên bị cáo không phải là người phát tán 06 video nêu trên. Ngoài ra, tài khoản Youtube “Lan Đinh” có địa chỉ mail tạo tài khoản là [email protected] đã bị xóa 54 tháng, hiện các video không còn nên bị cáo không có hành vi xúc phạm danh dự của bà Nguyễn Phương H2 và ông Huỳnh Uy D; đồng thời khai nại rằng việc bị cáo khai báo tại Cơ quan điều tra là do Điều tra viên ép cung, dùng nhục hình đối với bị cáo là không có căn cứ, bởi lẽ tại các biên bản ghi lời khai, biên bản hỏi cung của bị cáo tại Cơ quan điều tra, bị cáo đều tự ký biên bản xác nhận lời khai là đúng và lời khai này của bị cáo phù hợp với lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, biên bản khám xét, Vi bằng của Văn phòng T6 lập từ ngày 06/7/2021 đến ngày 16/7/2021, Kết luận giám định cũng như các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để xác định:
Trong năm 2021 tại địa chỉ 1 L, Phường F, quận G (nay là phường A), Thành phố Hồ Chí Minh, bị cáo Đinh Thị L đã có hành vi dùng điện thoại cá nhân và đèn chiếu sáng 03 chân để tự ghi hình 06 video clip phát ngôn những nội dung bịa đặt, sai sự thật liên quan đến bà Nguyễn Phương H2 và ông Huỳnh Uy D, sau đó bị cáo chuyển các file video clip từ điện thoại qua L2 và sử dụng tài khoản Youtube tên “Lan Đ” có số điện thoại 0976863368, tài khoản Youtube tên “Lan Đ” có đường link Youtube.com.@laninh9888, Viber Đ +84976863368 phát tán trên không gian mạng, xúc phạm nghiêm trọng uy tín, danh dự nhân phẩm của bà Nguyễn Phương H2 và ông Huỳnh Uy D. Hành vi đưa lên không gian mạng những thông tin thuộc bí mật cá nhân, bí mật gia đình và đời sống riêng tư trái quy định của pháp luật của bị cáo đã vi phạm các điểm a, b khoản 3 Điều 16, điểm d khoản 1 Điều 17 của Luật An ninh mạng năm 2018 và điểm d khoản 1 Điều 5 của Nghị định số 72/2013/NĐ-CP ngày 15/7/2013 của Chính phủ về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin trên mạng, đã xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân và gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Đinh Thị L về tội “Lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân” theo quy định tại khoản 1 Điều 331 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính Nhà nước, mà còn xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân được pháp luật ghi nhận bảo vệ. Bị cáo là người trên 18 tuổi và không thuộc trường hợp không có năng lực trách nhiệm hình sự nhưng vẫn cố ý thực hiện tội phạm. Do đó, cần áp dụng các quy định tương ứng của Bộ luật hình sự để xử phạt bị cáo mức hình phạt tương xứng. Tuy nhiên, khi lượng hình Hội đồng xét xử cũng cân nhắc, xem xét đến tính chất, mức độ, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ hình phạt và nhân thân của bị cáo.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo đăng 06 video clip vào nhiều ngày khác nhau và các video có nội dung bịa đặt, sai sự thật, xúc phạm nghiêm trọng uy tín, danh dự nhân phẩm của bà Nguyễn Phương H2 và ông Huỳnh Uy D, nên bị cáo bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội 02 lần trở lên” theo điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, phiên tòa phúc thẩm, bị cáo không thành khẩn khai báo nên không được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Ngoài ra, bị cáo phạm tội nhiều lần nhưng Cấp sơ thẩm nhận định bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên áp dụng cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự là không đúng luật nên Cấp sơ thẩm cần rút kinh nghiệm.
Về nhân thân: Bị cáo phạm tội lần đầu, chưa có tiền án, tiền sự nên được xem là người có nhân thân tốt khi quyết định hình phạt theo quy định tại Điều 50 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xét nội dung kháng cáo của bị cáo Đinh Thị L, Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm nhận thấy:
Đối với việc bị cáo kháng cáo cho rằng mặc dù trong điện thoại của bị cáo có 02 tài khoản Youtube nhưng bị cáo bị mất điện thoại vào đêm ngày 28/6/2021, nên bị cáo không phải là người phát tán 06 video nêu trên. Ngoài ra, tài khoản Youtube “Lan Đinh” có địa chỉ mail tạo tài khoản là [email protected] đã bị xóa 54 tháng, hiện các video không còn nên bị cáo không có hành vi xúc phạm danh dự của bà Nguyễn Phương H2 và ông Huỳnh Uy D. Lời khai nại của bị cáo là không có căn cứ, bởi lẽ tại Biên bản làm việc ngày 20/8/2025 (bút lục 969) thì bị cáo khai bị mất điện thoại vào cuối năm 2022 và tại Biên bản hỏi cung bị can ngày 05/02/2025 (bút lục 744), bị cáo khai bị cáo có hành vi bật đèn ánh sáng và dùng điện thoại cá nhân để tự ghi hình phát ngôn những nội dung liên quan đến bà Nguyễn Phương H2 và ông Huỳnh Uy D. Sau khi kết thúc, bị cáo chuyển file video clip từ điện thoại qua L, đăng nhập vào tài khoản Youtube “Lan Đinh” và tải video clip này lên kênh Youtube cho cộng đồng mạng tương tác, chia sẻ. Bên cạnh đó, theo ghi nhận của Văn phòng T6 đã lập các Vi bằng từ ngày 06/07/2021 đến ngày 16/07/2021, ghi nhận trên kênh Youtube có 05 video từ 01 đến 05 nêu trên được tài khoản Youtube “Lan Đ” đăng lên kênh Y. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy có đủ căn cứ để xác định bị cáo đã có hành vi sử dụng tài khoản Youtube tên “Lan Đ” có số điện thoại 0976863368, tài khoản Youtube tên “Lan Đ” có đường link Youtube.com.@laninh9888, Viber Đ +84976863368 phát tán 06 video trên không gian mạng, xúc phạm nghiêm trọng uy tín, danh dự, nhân phẩm của bà Nguyễn Phương H2 và ông Huỳnh Uy D.
Đối với nội dung kháng cáo đề nghị xem xét việc Hội đồng xét xử tuyên tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước đối với đầu thu camera ghi hình, 02 điện thoại di động và 01 máy tính xách tay của bị cáo là không đúng quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy 02 điện thoại di động và 01 máy tính xách tay là các phương tiện bị cáo sử dụng để ghi hình các phát ngôn những nội dung liên quan đến bà Nguyễn Phương H2, ông Huỳnh Uy D và đăng tải các video clip này lên kênh Youtube cho cộng đồng mạng, tương tác, chia sẻ là phương tiện thực hiện hành vi phạm tội, nên cấp sơ thẩm tuyên tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước đối với các vật chứng trên là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
Mặc dù bị cáo không được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự nhưng mức án 01 năm 09 tháng tù mà Cấp sơ thẩm áp dụng đối với bị cáo là phù hợp, tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội mà bị cáo gây ra. Bị cáo kháng cáo nhưng không đưa ra được chứng cứ để chứng minh nội dung kháng cáo là có căn cứ.
Do đó, Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của bị cáo và giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Lập luận trên đây cũng là căn cứ để chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phúc thẩm về việc không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo và giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đinh Thị L. Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 36/2026/HS-ST ngày 16/01/2026 của Tòa án nhân dân Khu vực 7, Thành phố Hồ Chí Minh về phần tội danh, hình phạt, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo.
Căn cứ khoản 1 Điều 331, điểm g khoản 1 Điều 52 và Điều 38, Điều 50 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Đinh Thị L 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù về tội “Lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân”. Thời hạn tù tính từ ngày 05/02/2025.
Về xử lý vật chứng:
Căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu, nộp vào ngân sách Nhà nước:
- 01 máy in hiệu Canon LBP 2900 màu trắng xám; 01 máy tính xách tay hiệu Dell màu xám; 01 chuột máy tính màu xanh đen; 01 đầu thu camera, màu đen hiệu @Jhua; 02 giá đỡ màu đen; 02 đèn tròn chiếu sáng.
- 01 điện thoại di động hiệu Samsung S21 Ultra 5G, màu đen, số IMEI 1: 354505625459185, IMEI 2: 359131205459183.
- 01 điện thoại di động hiệu Samsung, màu tím đen, phía sau lưng điện thoại có số IMEI: 359238210603125.
(Theo Biên bản giao nhận tang tài vật số: NK2026/004 ngày 02/10/2025 của Thi hành án dân sự Thành phố H)
Căn cứ Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội,
Bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND TC; (1) - VKSND TP.HCM; (3) - CQ THAHS CA.TP.HCM (1) - CQCSĐT – CA.TP.HCM; (1) - VKSND Khu vực 7; (1) - TAND Khu vực 7; (1) - THADS TP.HCM (1) - Bị cáo; (1) - Trại tạm giam Số 2 – Công an TP.HCM; (1) - UBND nơi bị cáo cư trú; (1) - Lưu: VT, THS, hồ sơ (20) (8) | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đoàn Thị Hương Giang |