vanban.org

Bản án 243/2026/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Công ty tài chính TNHH MTV Sh với bà Hồ Thị T. về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” về tiền gốc và lãi phát sinh;

Buộc Hồ Thị T. phải trả cho Công ty tài chính TNHH MTV Sh số tiền nợ tính đến ngày 12/9/2026 là là 275.469.632 đồng (Hai trăm bảy mươi lăm triệu, bốn trăm sáu mươi chín nghìn, sáu trăm ba mươi hai đồng). Trong đó: Nợ gốc là 72.032.042 đồng; Nợ lãi trong hạn là 52.636.919 đồng, Lãi quá hạn là 150.800… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Công Ty S - T"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Công ty tài chính TNHH MTV Sh với bà Hồ Thị T. về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” về tiền gốc và lãi phát sinh;
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
KHU VỰC 3 - ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 243/2026/DS-ST
Ngày: 12/9/2026
V/v “Tranh chấp hợp đồng tín dụng"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Xuân

Các Hội thẩm nhân dân:

- Bà Nguyễn Thị Hồng

- Bà Lê Thị Nhớ

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Như Quỳnh - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 3, thành phố Đà Nẵng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Thu Sương – kiểm sát viên

Ngày 12 tháng 9 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 3, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 245/2026/TLST-DS ngày 17 tháng 3 năm 2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1172/2026/QĐXXST-DS ngày 17/7/2026 và quyết định hoãn phiên tòa số 1046/2026/QĐST-DS ngày 13/8/2026, Quyết định hoãn phiên tòa số 1019/2026/QĐST-DS ngày 28/8/2026giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Công ty tài chính TNHH MTV Sh . Trụ sở: Tầng 19, tháp B, khu thương mại dịch vụ kết hợp nhà ở cao tầng tại lô đất 1-13 thuộc khu chức năng 1-số 15, đường T, phường phố T, TP. H; Mã số doanh nghiệp 030xxxxxxx do Sở kế hoạch đầu tư thành phố H cấp lần đầu ngày 18/4/2007, thay đổi lần thứ 20 ngày 29/6/2024

Đại diện theo pháp luật: Ông C

Đại diện theo ủy quyền: Ông Hoàng Văn Đ., Nguyễn Ngọc A., Nguyễn Ngọc N., Đỗ Thị Thùy T., Trần Hoàng H., Hoàng Xuân H. theo Văn bản ủy quyền số 43/2025/UQ-KK-SVFC ngày 17/7/2025 và Giấy ủy quyền số 50/UQ.2025 ngày 18/7/2025. Ông Trần Hoàng H. có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

- Bị đơn: Bà Hồ Thị T. – sinh năm: 1979;CMND số [đã mã hóa] do Công an TP. Đà Nẵng cấp ngày 30/10/2014 Địa chỉ: [địa chỉ đã mã hóa], thành phố Đà Nẵng. vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo Đơn khởi kiện đề ngày 28/01/2026, Bản tự khai, quá trình tố tụng đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Ngày 20/12/2019, Công ty tài chính TNHH MTV Sh (Sau đây gọi tắt là “Công ty tài chính Shinhan” hoặc “Công ty”) và bà Hồ Thị T. có ký hợp đồng cho vay số 1100212097.

Công ty tài chính TNHH MTV Sh cho ông Hồ Thị T. vay số tiền 79.000.000 đồng với lãi suất 36%/năm, mục đích vay: chi phí sửa chữa nhà ở loại hình vay: tín chấp (không yêu cầu tài sản đảm bảo). Vào ngày 20/12/2019, Công ty tài chính Shinhan đã giải ngân đủ số tiền 79.000.000 đồng cho Hồ Thị T..

Căn cứ quy định của hợp đồng cho vay số 100314757, Hồ Thị T. có nghĩa vụ thanh toán khoản vay bao gồm gốc và lãi trong vòng 48 kỳ vào ngày 16 (mười sáu) hàng tháng, số tiền thanh toán mỗi kỳ là 3.116.776 đồng, kỳ đầu tiên vào ngày 16/01/2019, kỳ cuối cùng vào ngày 16/12/2023.

Tuy nhiên đến nay, bà Hồ Thị T. chỉ mới thanh toán tổng cộng 08 kỳ với tổng số tiền 24.937.180 đồng. Trong đó trả gốc 6.967.985 đồng và lãi 17.969.222 đồng. Kể từ ngày 16/9/2020 Bà Hồ Thị T. không thanh toán tiếp theo cam kết tại lịch trả nợ đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán, mặc dù Công ty đã nhiều lần liên hệ và tạo điều kiện nhưng Hồ Thị T. vẫn không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ thanh toán cho Công ty tài chính Shinhan.

Vì vậy, Công ty tài chính Shinhan kính đề nghị Toà án nhân dân khu vực 3 – Đà Nẵng giải quyết các vấn đề sau:

- Yêu cầu bà Hồ Thị T. phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán một lần toàn bộ nợ gốc và nợ lãi tạm tính đến hết ngày 12/9/2026 tổng là 275.469.632 đồng. Trong đó: Nợ gốc là 72.032.042 đồng; Nợ lãi trong hạn là 52.636.919 đồng, Lãi quá hạn là 150.800.730 đồng.

- Yêu cầu bà Hồ Thị T. tiếp tục phải chịu khoản tiền lãi quá hạn theo hợp đồng trên dư nợ gốc từ ngày tiếp theo 13/9/2026 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ nợ cho Công ty tài chính Shinhan.

* Bị đơn bà Hồ Thị T. mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt nên Tòa án không ghi nhận ý kiến của ông Nam về yêu cầu khởi kiện của Công ty tài chính TNHH MTV Sh.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, sau khi thảo luận và nghị án, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Công ty tài chính TNHH MTV Sh khởi kiện Hồ Thị T. – sinh năm: 1979; Địa chỉ: [địa chỉ đã mã hóa], thành phố Đà Nẵng về việc "Tranh chấp hợp đồng tín dụng". Do đó, thẩm quyền giải quyết yêu cầu khởi kiện giữa nguyên đơn Công ty tài chính TNHH MTV Sh đối với bị đơn bà Hồ Thị T. thuộc Tòa án nhân dân khu vực 3, TP. Đà Nẵng quy định tại khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Nguyên đơn thực hiện đầy đủ các quyền nghĩa vụ theo quy định và có đơn xin xét xử vắng mặt; Bị đơn bà Hồ Thị T. được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng không có mặt trong quá trình tố tụng, vắng mặt lần thứ hai tại phiên tòa nên căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo quy định.

Về nội dung vụ án:

. Xét yêu cầu khởi kiện của Công ty tài chính TNHH MTV Sh buộc bà Hồ Thị T. phải trả khoản vay tính đến ngày 12/9/2026 là là 275.469.632 đồng. Trong đó: Nợ gốc là 72.032.042 đồng; Nợ lãi trong hạn là 52.636.919 đồng, Lãi Quá hạn là 150.800.730 đồng và buộc bà Thủy phải tiếp tục thanh toán tiền lãi phát sinh kể từ ngày 12/9/2026 cho đến khi thanh toán toàn bộ nghĩa vụ nợ theo mức lãi suất quá hạn quy định tại hợp đồng vay số 100212097 ngày 20/12/2019 thì thấy:

Vào ngày 20/12/2019, Công ty tài chính Shinhan đã giải ngân đủ số tiền 79.000.000 đồng cho Hồ Thị T.. Ngoài ra hợp đồng kèm theo bản lịch trả nợ phân kỳ với Công ty tài chính TNHH MTV Sh bà Thủy đều thống nhất và ký thỏa thuận. Lãi suất áp dụng là 2,767%/ tháng, lãi suất quá hạn áp dụng 4.15%/ tháng. Căn cứ quy định của hợp đồng cho vay nêu trên, bà Hồ Thị T. có nghĩa vụ thanh toán khoản vay bao gồm gốc và lãi trong vòng 48 kỳ vào ngày 16 (mười sáu) hàng tháng, số tiền thanh toán mỗi kỳ là 3.116.776 đồng, kỳ đầu tiên vào ngày 16/01/2020, kỳ cuối cùng vào ngày 16/12/2023.

Theo Bản sao kê chi tiết của Công ty shinhan cung cấp thì thấy sau khi dược giải ngân số tiền vay , bà Thủy có thành toán được 08 kỳ với tổng số tiền 24.937.180 đồng. Trong đó trả gốc 6.967.985 đồng và lãi 17.969.222 đồng. Kể từ ngày 16/9/2020 Bà Hồ Thị T. không thanh toán tiếp theo cam kết tại lịch trả nợ đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán dù đã được công ty thông báo nhắc nợ nhiều lần.

Tính đến ngày 12/9/2026, bà Hồ Thị T. nợ tổng số tiền là 275.469.632 đồng. Trong đó: Nợ gốc là 72.032.042 đồng; Nợ lãi trong hạn là 52.636.919 đồng, Lãi Quá hạn là 150.800.730 đồng. Công ty Shinhan khởi kiện buộc bà Thủy thanh toán dứt điểm nghĩa vụ nợ tại hợp đồng vay là có cơ sở phù hợp với cam kết của bà Thủy tại hợp đồng và các Điều 463,466 Bộ luật dân sự và Điều 91, 95 Luật tổ chức tín dụng nên HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty shinhan về tiền gốc và lãi nêu trên.

Xét yêu cầu của Công ty shinhan buộc bà Thủy tiếp tục trả lãi phát sinh kể từ ngày 13/9/2026 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ theo mức lãi suất quá hạn mà bà Thủy đã cam kết tại hợp đồng vay số 100212097 ngày 20/12/2019 với Công ty Shinhan phù hợp với Điều 91, 95 Luật tổ chức tín dụng nên HĐXX chấp nhận.

Về án phí:

- Bà Hồ Thị T. phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 BLTTDS và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30.12.2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ: Khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 463, 466 Bộ luật Dân sự; Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30.12.2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Công ty tài chính TNHH MTV Sh với bà Hồ Thị T. về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” về tiền gốc và lãi phát sinh;

Tuyên xử:

1. Buộc Hồ Thị T. phải trả cho Công ty tài chính TNHH MTV Sh số tiền nợ tính đến ngày 12/9/2026 là là 275.469.632 đồng (Hai trăm bảy mươi lăm triệu, bốn trăm sáu mươi chín nghìn, sáu trăm ba mươi hai đồng). Trong đó: Nợ gốc là 72.032.042 đồng; Nợ lãi trong hạn là 52.636.919 đồng, Lãi quá hạn là 150.800.730 đồng.

2. Bà Hồ Thị T. tiếp tục trả tiền lãi phát sinh kể từ ngày 13/9/2026 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ theo mức lãi suất nợ quá hạn đã cam kết với Công ty tài chính TNHH MTV ShinhanViệt Nam quy định tại hợp đồng vay số 1100314757 ngày 12/9/2019.

3. Về án phí:

- Bà Hồ Thị T. phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 13.773.480 đông (Mười ba triệu, bảy trăm bảy mươi ba nghìn, bốn trăm tám mươi đồng).

- Hoàn trả cho Công ty tài chính TNHH MTV Sh số tiền tạm ứng án phí 6.297.953 đồng (Sáu triệu, hai trăm chín mươi bảy nghìn, chín trăm năm mươi ba đồng) đã nộp theo biên lai thu số 0002503 ngày 17/03/2026 tại Thi hành án dân sự thành phố Đà Nẵng.

4. Án xử công khai, nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ