vanban.org

Bản án 243/2025/HS-PT — Hình sự

TAND cấp cao tại Đà Nẵng Tuyên án 09/05/2025 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 09/05/2025 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bị cáo Nguyễn Như H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Giết người - phạm tội giết người (điều 123 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 123 Bộ luật Hình sự; Điều 168 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số 243/2025/HS-PT
Ngày 09 tháng 5 năm 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Đặng Kim Nhân

Các Thẩm phán: ông Phạm Văn Hợp, bà Trần Thị Kim Liên

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: bà Đặng Ngọc Gia Linh

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên tòa: ông Đoàn Minh Lộc - Kiểm sát viên cao cấp.

Ngày 09 tháng 5 năm 2025, phiên tòa trực tuyến, công khai mở tại điểm cầu trung tâm trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng kết nối với điểm cầu trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đăk Lăk để xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 168/2025/TLPT-HS ngày 17/4/2025 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 36/2025/HS-ST ngày 12/3/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Đăk Lăk bị kháng cáo, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 1119/2025/QĐXXPT-HS ngày 25/4/2025 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng, đối với:

Bị cáo: Nguyễn Như H (tên gọi khác: Hùng Chẩn), sinh ngày 26/7/1990 tại tỉnh Đắk Lắk; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: Thôn I, xã E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk; Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Làm nông; Dân tộc: Kinh; Con ông: Nguyễn Như C, sinh năm 1959 và bà: Nguyễn Thị S, sinh năm 1960 (đã chết); Bị cáo sống chung như vợ chồng với chị Hoàng Linh C1, sinh năm 2000 (chưa đăng ký kết hôn) và có 01 con chung sinh năm 2018;

Tiền án:

1. Ngày 17/02/2009, bị Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Đà Nẵng xử phạt 03 năm tù về tội cướp tài sản (chấp hành xong hình phạt tù ngày 30/8/2010).

2. Ngày 12/01/2012, bị Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xử phạt 04 năm tù về tội cố ý gây thương tích (chấp hành xong hình phạt tù ngày 23/12/2015; bị cáo đã tái phạm, chưa được xóa án tích).

Tiền sự: Không;

Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 11/9/2017, đến ngày 25/12/2017 được áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh đến ngày 03/9/2018; ngày 04/9/2018, bị cáo trốn khỏi cơ sở bắt buộc chữa bệnh; từ ngày 27/9/2020 đến ngày 13/8/2023, bị cáo được áp dụng biện pháp buộc chữa bệnh; ngày 14/8/2023, bị cáo trốn khỏi cơ sở bắt buộc chữa bệnh; từ ngày 10/5/2024 đến ngày 17/9/2024, bị cáo được áp dụng biện pháp buộc chữa bệnh; bị cáo bị tạm giam lại ngày 18/9/2024, hiện đang bị tạm giam, có mặt tại phiên tòa.

Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Như H theo yêu cầu của Tòa án: Luật sư Nguyễn Xuân P - Công ty L1, thuộc Đoàn luật sư tỉnh Đ, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến phiên tòa, nội dung vụ án tóm tắt như sau:

Sau khi chấp hành xong hình phạt 04 năm tù về tội cố ý gây thương tích, Nguyễn Như H, nhiều lần thực hiện hành vi phạm tội, cụ thể:

Lần thứ nhất: Khoảng 02 giờ 30 phút, ngày 03/3/2017, Nguyễn Như H, Mai Hùng M, cùng với Đ, H1 và T2 (chưa xác định được nhân thân, lai lịch) uống rượu với nhau cạnh hồ nước giáo xứ V, thuộc xã E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk, thì thấy lán trại nuôi ong của ông Nguyễn Duy P1 và ông Nguyễn Duy Đ1, trong lô Cao su, thuộc thôn G, xã E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk; H và đồng bọn rủ nhau dùng vũ lực cướp tài sản của 02 người này và điều khiển xe mô đi đến lán trại nuôi ông; khi đến nơi H gọi to “chủ ông đâu?”; ông P1 và ông Đ1 trong lán trại đi ra, thì H và đồng bọn dùng chân, tay đánh ông Đ1, ông P1 và yêu cầu đưa tiền; Sợ bị đánh, nên ông Đ1, ông P1 đã quỳ xuống van xin và đưa cho H và đồng bọn 2.000.000đ.

Lần thứ hai: Ngay sau khi cướp tài sản của ông P1 và ông Đ1, H và đồng bọn điều khiển xe mô tô chở nhau đến lán trại nuôi ong, của anh em ông Nguyễn T và Nguyễn N (cách lán trại của ông P1, ông Đ1 khoảng 300m ); H và đồng bọn dùng chân, tay đánh ông T, ông N và yêu cầu đưa tiền; ông T bỏ chạy, còn ông N sợ bị đánh, nên đã dưa cho H và đồng bọn 2.600.000đ.

Lần thứ ba: Khoảng 20 giờ, ngày 30/8/2020, Nguyễn Văn T1 và Phạm Anh T2 (thường gọi là Tuấn H2), hẹn gặp nhau tại khu vực chợ xã H, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk để giải quyết mâu thuẫn về việc T2 đăng hình ảnh của T1 và Nguyễn Như H lên mạng xã hội Facebook, với nội dung nếu gặp đâu là sẽ đánh đó. T2 và T1 gặp nhau nhưng T2 nói với T1 là T2 không đăng nội dung nêu trên, dẫn đến T1 và T2 cải nhau, thách thức đánh nhau, thì được mọi người can ngăn.

Khoảng 21 giờ ngày 30/8/2020, Nguyễn Như H rủ Nguyễn Cảnh L, Mai H, Tuấn A (chưa xác định được nhân thân, lai lịch) đi tìm Phạm Anh T2 để đánh, vì T2 đăng hình ảnh của T1 và H lên mạng xã hội Facebook. Trên đường đi, H vào nhà anh Nguyễn Ngọc T3 mua 04 con dao rựa; H giao cho mỗi người 01 con dao rựa và 04 người điều khiển xe mô tô chở nhau đi tìm T2 để đánh; Khi Như H và đồng bọn đến cổng chào thôn C, xã E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk, thì gặp T2 và nhiều người đang ngồi chơi tại đây; Thấy Như H và đồng bọn đến, T2 bỏ chạy; Như H cầm dao đi đến chỗ anh Nguyễn H đang đứng, thì Như H và Nguyễn H lời qua, tiếng lại với nhau; Như H dùng tay trái nắm cổ áo anh Nguyễn H, còn tay phải dùng dao chém vào đầu anh Nguyễn H 01 nhát; L và M cầm dao đe dọa các bạn của anh Nguyễn H đang ngồi tại đây, với mục đích bảo vệ Như H.

Sau khi chém anh Nguyễn H, Như H cùng với M và Tuấn A cầm dao tìm Phạm Anh T2 để chém nhưng không tìm được, 03 người quay trở lại cổng chào thôn C; Nguyễn H hỏi Như H lý do tại sao chém mình và nói “mày ngon, thì chém tao cái nữa”; Như H dùng dao chém 02 nhát vào đầu Nguyễn H, thì được M và mọi người can ngăn; M bị Như H chém trúng vào tay trái. Sau khi Nguyễn H được đưa đi bệnh viện cấp cứu, L, M và Tuấn A đi về; Như H một mình cầm dao đi tìm Phạm Anh T2 để chém; Trịnh Minh H3 nhặt 02 con dao tại hiện trường và đứng nói chuyện với T2 và Trần Hùng C2; Lúc này T2 đang trốn và nghe Như H chửi mình và đe dọa giết những người trong gia đình mình, T2 và C2 chạy đến giật lấy 02 con dao trên tay Minh H3, để đánh nhau với Như H; Như H thấy vậy, cầm dao đuổi theo T2 và dùng dao chém 01 nhát vào cổ T2, rồi vứt dao bỏ chạy.

Bản kết luận giám định pháp y thương tích số 930/Tgt-TTPY ngày 07/9/2020 và số 929/TgT-TTPY ngày 05/9/2020 của Trung tâm Pháp y tỉnh Đ kết luận: - Phạm Anh T2 bị vết thương nằm chéo mặt trước dưới vành tai trái, mất chất vành tai, kích thước 04cm x 0,1cm; vết thương từ góc hàm trái đến cổ gáy trái. Tỷ lệ tổn thương cơ thể, do thương tích gây nên hiện tại là 14%; - Nguyễn H bị vết thương vùng trán trái, kích thước 6cm x 0,2cm; cách vết thương trên về bên trái 0,8cm có vết thương hình cung mở sang phải, kích thước 3cm x 0,2cm; Vết thương dọc trán, kích thước 2cm x 0,2cm; Mẻ bản sọ ngoài trán trái; tỷ lệ tổn thương cơ thể, do thương tích gây nên hiện tại là 17%.

Bản kết luận giám định pháp y tâm thần số 103/KLGĐTC ngày 19/12/2017 của Trung tâm P2, kết luận: - Về y học: Trước, trong và sau khi thực hiện hành vi phạm tội Nguyễn Như H bị bệnh: Rối loạn cảm xúc lưỡng cực (F31-ICD10). Hiện tại đối tượng bị bệnh: Rối loạn cảm xúc lưỡng cực, giai đoạn trầm cảm nặng (F31.5-ICD10); - Trước, trong và sau khi thực hiện hành vi phạm tội (ngày 03/3/2017): Nguyễn Như H, hạn chế khả năng nhận thức và hạn chế khả năng điều khiển hành vi. Hiện tại mất khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi.

Bản kết luận giám định pháp y tâm thần số 849/KL-VPYTW ngày 28/12/2022 của Viện pháp y tâm thần Trung ương B, kết luận:- Về y học: Trước, trong, sau khi gây án: Nguyễn Như H, bị bệnh Rối loạn cảm xúc lưỡng cực (F31 - ICD.10). Hiện nay: Nguyễn Như H, bị bệnh Rối loạn cảm xúc lưỡng cực giai đoạn trầm cảm nặng, không có triệu chứng loạn thần (F31.4 - ICD.10)- Về khả năng nhận thức và điều khiển hành vi: Tại thời điểm gây án, Nguyễn Như H bị hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi. Hiện nay Nguyễn Như H, mất khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.

Bản kết luận giám định pháp y tâm thần, sau thời gian điều trị bắt buộc số 408/KLBB-VPYTW ngày 30/7/2024 của Viện pháp y tâm thần Trung ương B, kết luận: Nguyễn Như H hiện tại bệnh đã ổn định, không cần thiết điều trị bắt buộc nữa, đương sự có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi, để làm việc với cơ quan pháp luật.

Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Nguyễn Như H khai nhận khoảng 02 giờ 30 phút, ngày 03/03/2017, sau khi uống rượu, bị cáo cùng với M1 Hùng Mạnh, Đ, H1 và T2, đến lán trại nuôi ong của ông Nguyễn Duy Đ1, Nguyễn Duy P1 và lán trại nuôi ong của ông Nguyễn T, Nguyễn N, đang nuôi ông trong lô Cao su, thuộc Thôn G, xã E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk. Bị cáo và đồng bọn, đã dùng chân tay đánh ông Đ1, ông P1, ông T, ông N và yêu cầu 04 người này, đưa tiền cho bị cáo và đồng bọn; Sợ bị đánh, nên ông P1 và ông Đ1, đã đưa cho bị cáo và đồng bọn 2.000.000đ; ông N đưa cho bị cáo và đồng bọn 2.600.000đ. Do Phạm Anh T2 đăng hình ảnh của bị cáo và Nguyễn Văn T1, lên mạng xã hội Facebook và đe dọa đánh bị cáo nên đêm 30/8/2020, bị cáo Nguyễn Như H rủ Nguyễn Cảnh L, Mai Hùng M và Tuấn A, mang theo dao rựa, đến cổng chào thôn C, xã E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk, tìm T2 để đánh. Anh Nguyễn H đứng cạnh T2 và có lời qua, tiếng lại với bị cáo, bị cáo dùng dao chém 03 nhát vào đầu anh Nguyễn H, thì được mọi người can ngăn; sau đó, bị cáo cầm dao tìm T2 để chém, bị cáo dùng dao chém một nhất vào cổ T2, rồi bỏ chạy.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 36/2025/HS-ST ngày 12/3/2025, Tòa án nhân dân tỉnh Đăk Lăk quyết định:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Như H phạm tội: “Giết người” và “Cướp tài sản”.

Áp dụng điểm a, n khoản 1 Điều 123; khoản 3 Điều 57; Điều 15, các điểm s, q khoản 1 Điều 51 BLHS năm 2015; xử phạt: Nguyễn Như H 16 (Mười sáu) năm tù về Tội giết người.

Áp dụng điểm h khoản 2 Điều 168; các điểm b, p, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 BLHS năm 2015, xử phạt Nguyễn Như H 08 (T4) năm tù về tội cướp tài sản.

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 55 BLHS, tổng hợp hình phạt của 02 tội, buộc Nguyễn Như H phải chấp hành hình phạt chung là 24 (hai mươi tư) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam 18/9/2024, được khấu trừ thời gian tạm giam trước và thời gian bắt buộc chữa bệnh (từ ngày 11/9/2017 đến ngày 03/9/2018; từ ngày 27/9/2020 đến 13/8/2023; từ ngày 10/5/2024 đến ngày 17/9/2024).

Bản án sơ thẩm còn có quyết định về xử lý vật chứng, án phí.

Sau khi xét xử sơ thẩm:

Bị cáo Nguyễn Như H kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 04/QĐ-VKS-P2 ngày 25/3/2025, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đăk Lăk cho rằng “Bản án hình sự sơ thẩm số 36/2025/HSST ngày 12/3/2025 của TAND tỉnh Đắk Lắk đã xử phạt bị cáo Nguyễn Như H 16 năm tù về tội Giết người và 08 năm tù về tội Cướp tài sản là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Tuy nhiên, việc Tòa án tuyên khấu trừ thời gian bắt buộc chữa bệnh (từ ngày 25/12/2017 đến ngày 03/9/2018; từ ngày 27/9/2020 đến ngày 13/8/2023; từ ngày 10/5/2024 đến ngày 17/9/2024) cho bị cáo là không đúng quy định, bởi lẽ: Tại khoản 3 Điều 49 Bộ luật hình sự năm 2015 quy định: 3. Đối với người đang chấp hành hình phạt tù mà bị bệnh tới mức mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình, thì căn cứ vào kết luận giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, Tòa án có thể quyết định đưa họ vào một cơ sở điều trị chuyên khoa để bắt buộc chữa bệnh. Sau khi khỏi bệnh, nếu không có lý do khác để miễn chấp hành hình phạt, thì người đó phải tiếp tục chấp hành hình phạt. Thời gian bắt buộc chữa bệnh được trừ vào thời gian chấp hành hình phạt tù. Nghị quyết 01/2018/NQ-HĐTP ngày 24/4/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn Điều 66 và Điều 106 Bộ luật hình sự về tha tù trước thời hạn có điều kiện. Nghị quyết không hướng dẫn trực tiếp Điều 49 Bộ luật hình sự, nên chỉ những người đang chấp hành hình phạt tù, thì thời gian bắt buộc chữa bệnh được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt tù. Theo quy định nêu trên thì thời gian bắt buộc chữa bệnh được trừ vào thời gian chấp hành hình phạt tù chỉ được áp dụng đối với người chấp hành hình phạt tù. Như vậy, tại thời điểm xét xử, bị cáo Nguyễn Như H không phải đang chấp hành hình phạt tù. Do đó, TAND tỉnh Đắk Lắk khi quyết định hình phạt lại tính thời gian bắt buộc chữa bệnh (từ ngày 25/12/2017 đến ngày 03/9/2018; từ ngày 27/9/2020 đến ngày 13/8/2023; từ ngày 10/5/2024 đến ngày 17/9/2024) để khấu trừ vào thời gian chấp hành hình phạt tù đối với bị cáo Nguyễn Như H là sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật, vi phạm Điều 49 Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Bị cáo H giữ nguyên kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đăk Lăk.

- Đại diện Viện kiểm sát phát biểu:

+ Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến phiên tòa phúc thẩm hôm nay, Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng, Thẩm phán, Thư ký Tòa án thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; Bị cáo chấp hành nghiêm chỉnh nội quy phiên tòa và thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ khi tham gia tố tụng.

+ Về nội dung: Đề nghị không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo; đề nghị chấp nhận quyết định kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đăk Lăk không khấu trừ thời gian bắt buộc chữa bệnh vào thời gian bị cáo phải chấp hành hình phạt tù.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, cấp phúc thẩm thấy:

[1] Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo thấy:

[1.1] Nguyễn Như H, là người đã tái phạm chưa được xóa án tích, do động cơ vụ lợi, khoảng 02 giờ 30 phút ngày 03/03/2017, Nguyễn Như H cùng với Mai Hùng M, Đ, H1 và T2, đã lợi dụng các ông Nguyễn Duy Đ1, Nguyễn Duy P1, Nguyễn T và Nguyễn N, nuôi ong mật trong lô cao su, thuộc thôn G, xã E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk, là nơi vắng người qua lại; Như H và đồng bọn, đã dùng vũ lực tấn công ông Đ1, ông P1, ông T, ông N và yêu cầu đưa tiền, làm cho những người này tê liệt ý chí kháng cự, lo sợ bị đánh, nên ông P1 và ông Đ1 đã đưa cho H và đồng bọn 2.000.000đ; ông N đã đưa cho H và đồng bọn 2.600.000đ. Do có mâu thuẫn nhỏ nhặt với Phạm Anh T2, khoảng 21 giờ ngày 30/8/2020, Nguyễn Như H rủ Nguyễn Cảnh L, Mai Hùng M và Tuấn A, mang theo dao rựa đến cổng chào thôn C, xã E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk, tìm T2 để đánh; Thấy anh Nguyễn H đứng cạnh T2, Như H đã dùng dao rựa chém 03 nhát vào đầu anh Nguyễn H, nhằm giết chết anh Nguyễn H; việc anh Nguyễn H không chết, là do mọi người can ngăn hành vi tấn của Như H, là ngoài ý muốn của Nguyễn Như H; Ngay sau đó Như H dùng dao rựa chém 01 nhát vào cổ Phạm Anh T2, nhằm giết chết anh T2; việc anh T2 bỏ chạy và không chết là ngoài ý muốn của Nguyễn Như H.

Hành vi của bị cáo Nguyễn Như H và đồng bọn, dùng vũ lực tấn công các ông Nguyễn Duy Đ1, Nguyễn Duy P1, Nguyễn T và Nguyễn N, để chiếm đoạt tài sản phạm vào Tội cướp tài sản. Tại thời điểm Nguyễn Như H thực hiện hành vi cướp tài sản, BLHS năm 1999 đang có hiệu lực; tuy nhiên Điều 168 BLHS năm 2015 quy định về hình phạt đối với Tội cướp tài sản nhẹ hơn so với Điều 133 BLHS năm 1999; do đó, Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ điểm a khoản 1 Điều 2 Nghị quyết số 41/2017 /QH14 ngày 20/6/1017 của Quốc Hội, áp dụng Điều 168 BLHS năm 2015 với tình tiết định khung hình phạt là tái phạm nguy hiểm quy định tại điểm h khoản 2 Điều 168 Bộ luật hình sự năm 2015 để xét xử bị cáo Nguyễn Như H là đúng pháp luật.

Hành vi của bị cáo Nguyễn Như H dùng dao rựa chém vào đầu anh Nguyễn H và chém vào cổ Phạm Anh T2 phạm vào Tội giết người với tình tiết định khung hình phạt là giết 02 người trở lên và phạm tội có tính chất côn đồ, được quy định tại các điểm a, n khoản 1 Điều 123 BLHS năm 2015.

[1.2] Xét tính chất vụ án do Nguyễn Như H gây ra là đặc biệt nghiêm trọng, đã gây tác hại xấu về nhiều mặt cho xã hội; do động cơ vụ lợi, khoảng 02 giờ 30 phút ngày 03/03/2017, Nguyễn Như H cùng với Mai Hùng M, Đ, H1 và T2, đã lợi dụng các ông Nguyễn Duy Đ1, Nguyễn Duy P1, Nguyễn T và Nguyễn N, nuôi ong mật trong lô cao su, thuộc Thôn G, xã E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk, là nơi vắng người qua lại, để thực hiện hành vi dùng vũ lực tấn công ông Đ1, ông P1, ông T, ông N và yêu cầu đưa tiền, làm cho những người này tê liệt ý chí kháng cự, lo sợ bị đánh, nên ông P1 và ông Đ1 đã đưa cho H và đồng bọn 2.000.000đ; ông N đã đưa cho H và đồng bọn 2.600.000đ. Do có mâu thuẫn nhỏ nhặt với Phạm Anh T2, khoảng 21 giờ ngày 30/8/2020, Nguyễn Như H rủ Nguyễn Cảnh L, Mai Hùng M và Tuấn A, mang theo dao rựa đến cổng chào thôn C, xã E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk, tìm T2 để đánh; Mặc dù không có mâu thuẫn với anh Nguyễn H nhưng khi thấy anh Nguyễn H đứng cạnh Phạm Anh T2, bị cáo dùng con dao rựa chém 03 nhát vào đầu anh Nguyễn H, với mục đích giết chết anh Nguyễn H; Việc anh Nguyễn H không chết, là do nhiều người can ngăn hành vi tấn công của bị cáo và đưa anh Nguyễn H đi cấp cứu kịp thời, là ngoài ý muốn của bị cáo; ngay sau khi chém anh Nguyễn H, bị cáo tiếp tục cầm dao tìm T2 để chém; bị cáo đã dùng dao chém vào cổ anh T2, nhằm giết chết T2; việc anh T2 bỏ chạy và không chết là ngoài ý muốn của bị cáo; Hành vi phạm tội của bị cáo, thể hiện tính côn đồ hung hãn, xem nhẹ tính mạng của người khác một cách cao độ, xâm phạm trái phép đến quyền sống của anh Phạm Anh T2 và anh Nguyễn H, xâm phạm trái phép đến tài sản của ông Đ1, ông P1, ông T, ông N, đồng thời còn gây mất trật tự trị an ở địa phương và về nhân thân, bị cáo đã nhiều lần bị kết án về tội cố ý, chưa được xóa án tích, lại tiếp tục phạm tội.

[1.3] Khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự quy định: “Người nào giết người thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình: a) Giết 02 người trở lên; n) Có tính chất côn đồ;…”. Khoản 1, 2 Điều 168 Bộ Luật Hình sự năm 2015 quy định: “1. Người nào dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm. 2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt từ từ bảy năm đến mười lăm năm: h) Tái phạm nguy hiểm..”. Tòa án cấp sơ thẩm đã xét, bị cáo phạm tội chưa đạt về Tội giết người; khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo bị bệnh, dẫn đến hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi; sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo và tác động với gia đình bồi thường số tiền chiếm đoạt cho người bị hại, trong vụ án cướp tài sản nên Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, q, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 từ đó xử phạt bị cáo Nguyễn Như H 16 năm tù về T5 giết người, 08 năm tù về Tội cướp tài sản là tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo cũng như hậu quả gây ra cho xã hội; bị cáo kháng cáo, nhưng không có thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới nên Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm không chấp nhận mà giữ nguyên hình phạt mà cấp sơ thẩm đã xử phạt bị cáo. Bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[2] Xét Quyết định kháng nghị phúc thẩm của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đăk Lăk cũng như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tại phiên tòa phúc thẩm, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy: Khoản 3 Điều 49 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định: “3. Đối với người đang chấp hành hình phạt tù mà bị bệnh tới mức mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình, thì căn cứ vào kết luận giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, Tòa án có thể quyết định đưa họ vào một cơ sở điều trị chuyên khoa để bắt buộc chữa bệnh. Sau khi khỏi bệnh, nếu không có lý do khác để miễn chấp hành hình phạt, thì người đó phải tiếp tục chấp hành hình phạt. Thời gian bắt buộc chữa bệnh được trừ vào thời gian chấp hành hình phạt tù”. Nghị quyết số 01/2018/NQ-HĐTP ngày 24/4/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn Điều 66 và Điều 106 Bộ luật Hình sự về tha tù trước thời hạn có điều kiện, Nghị quyết không hướng dẫn trực tiếp Điều 49 Bộ luật Hình sự nên chỉ những người đang chấp hành hình phạt tù, thì thời gian bắt buộc chữa bệnh mới được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt tù nên cấp sơ thẩm trừ thời gian bị cáo H bị bắt buộc chữa bệnh vào thời gian chấp hành hình phạt tù là chưa đúng nên cấp phúc thẩm chấp nhận kháng nghị, điều chỉnh lại cho đúng.

[3] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ thời điểm hết hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các điểm a, b khoản 1 Điều 355, Điều 356, Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo giữ nguyên mức hình phạt mà Tòa án nhân dân tỉnh Đăk Lăk đã xử phạt bị cáo tại Bản án hình sự sơ thẩm số 36/2025/HS-ST ngày 12/3/2025; chấp nhận Quyết định kháng nghị điều chỉnh quyết định của Bản án sơ thẩm về khấu trừ thời gian bắt buộc chữa bệnh vào thời gian chấp hành hình phạt tù như sau:

Áp dụng điểm a, n khoản 1 Điều 123; khoản 3 Điều 57; Điều 15, các điểm s, q khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015; xử phạt bị cáo Nguyễn Như H 16 năm tù về “Tội giết người”; Áp dụng điểm h khoản 2 Điều 168; các điểm b, p, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 BLHS năm 2015, xử phạt bị cáo Nguyễn Như H 08 năm tù về “Tội cướp tài sản”. Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 55 Bộ luật Hình sự về tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Nguyễn Như H phải chấp hành hình phạt chung của 2 tội là 24 (hai mươi bốn) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 18/9/2024, được khấu trừ thời gian bị tạm giam từ ngày 11/9/2017 đến ngày 25/12/2017.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bị cáo Nguyễn Như H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ