- Tranh chấp gì? án hình sự — "ttv - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo T T V pham tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN K THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số 243/2024/HS-ST Ngày 30/12/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN K, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Như Trọng.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Vũ Minh Long;
Ông Lương Văn Thoai.
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Đat – Thư ký Toà án nhân dân huyện K, thành phố Hà Nội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện K, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Vương Thị Thanh Hà – Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 12 năm 2024, tai điểm cầu trung tâm thuộc trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 240/2024/TLST-HS ngày 05 tháng 12 năm 2024 theo Quyết định đưa ra xét xử số 234/2024/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 12 năm 2024, đối với bị cáo:
T T V, sinh năm 1998; đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp A, xã B, huyện C, tỉnh Kiên Giang; nơi cư trú: Không cố định; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; trình độ học vấn: 08/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông T T Đ và con bà H T L; gia đình bị cáo có 04 anh em, bị cáo là con thứ nhất; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt quả tang, bị tam giữ từ ngày 11/11/2024 đến ngày 17/11/2024 chuyển tam giam. Hiện đang bị áp dụng biện pháp tam giam tai Nhà tam giữ - Công an huyện K. Bị cáo có mặt tai điểm cầu thành phần thuộc Trai tam giam số 1, Công an thành phố Hà Nội.
Bị hại: Anh P M H, sinh năm 1991; nơi cư trú: Đội B, thôn B1, xã B2, huyện K, thành phố Hà Nội, vắng mặt tai phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 12 giờ 15 phút ngày 11/11/2024, Tổ công tác Công an xã Đa Tốn tiến hành tuần tra, kiểm soát tai khu vực cánh đồng Kênh, đội 11, thôn Thuận Tốn, xã Đa Tốn, huyện K, Hà Nội phát hiện T T V đang có hành vi trộm cắp 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream, màu nâu, BKS 29N1 – 147.60 của anh P M H, sinh năm 1991; trú tai: Thôn B1, xã B2, huyện K, Hà Nội. Tổ công tác đã thu giữ vật chứng và lập biên bản bắt người pham tội quả tang.
Vật chứng thu giữ T T V: 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream, màu nâu, BKS 29N1 – 147.60, số máy HA08E1156971, số khung RLHHA08098Y132224.
Tai bản Kết luận định giá tài sản số 270/KL-HĐĐGTS ngày 15/11/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện K kết luận: 01 chiếc xe mô tô loại xe Honda Dream, màu nâu, BKS 29N1-147.60, số khung RLHHA08098Y132224, số máy HA08E1156971, đã qua sử dụng, mua từ tháng 6/2012 trị giá 9.500.000 đồng.
Tai cơ quan điều tra, bị cáo T V V khai nhận: Khoảng tháng 10 năm 2024, T V V bỏ nhà đi lang thang, không có việc làm, không có tiền tiêu nên nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. Khoảng 12 giờ ngày 11/11/2024, T V V đi bộ đến khu vực vườn cây tai cánh đồng Kênh, đội 11, Thuận Tốn, xã Đa Tốn phát hiện có 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream màu nâu, BKS: 29N1 - 147.60 của anh P M H đang dựng trước cửa lều, xe không khóa cổ và không có người trông giữ nên T V V chui qua khe cửa đi bộ đến dắt chiếc xe máy trên đi được khoảng 03m thì bị Anh P M H và lực lượng Công an xã phát hiện bắt quả tang cùng vật chứng.
Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream, màu nâu, BKS 29N1 – 147.60, số máy HA08E1156971, số khung RLHHA08098Y132224 thu giữ của bị cáo T T V. Quá trình điều tra xác định chủ sở hữu chiếc xe trên là anh P M H. Ngày 15/11/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện K đã ra quyết định xử lý vật chứng trả chiếc xe trên cho anh P M H. Anh P M H đã nhận lai tài sản và không có yêu cầu bồi thường về dân sự.
Tai Cơ quan điều tra Công an huyện K, T T V khai nhận toàn bộ hành vi pham tội của mình, phù hợp với lời khai của bị hai và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án.
Tai bản Cáo trang số 252/CT-VKSGL ngày 28 tháng 11 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện K truy tố bị cáo T T V về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tai khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tai phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi pham tội của mình như đã khai tai cơ quan điều tra và Cáo trang đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phat cho bị cáo.
Đai diện Viện kiểm sát nhân huyện K tham gia phiên tòa luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố theo Cáo trang; sau khi phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi pham tội, nhân thân bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo T T V pham tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phat bị cáo T T V từ 08 tháng đến 10 tháng tù, thời han tù tính từ ngày 11/11/2024; không áp dụng hình phat bổ sung bằng tiền đối với bị cáo T V V.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hai là anh P M H không yêu cầu giải quyết về trách nhiệm dân sự của bị cáo nên không xét.
Về xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra Công an huyện K đã xử lý vật chứng theo thẩm quyền, nay không có tranh chấp nên không xét.
Sau khi nghe Đai diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội, bị cáo không có tranh luận gì. Trong lời nói sau cùng, bị cáo nhận thức rõ hành vi của mình là vi pham pháp luật và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phat cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện K và Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân huyện K và Kiểm sát viên trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tai phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nai về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về thủ tục tố tụng: Bị hai là anh P M H vắng mặt tai phiên tòa nhưng trước đó đã có lời khai đầy đủ tai Cơ quan điều tra. Xét thấy việc vắng mặt của Anh P M H không gây trở ngai cho việc xét xử. Theo quy định tai khoản 1 Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt Anh P M H.
Về hành vi phạm tội và tội danh:
Lời khai nhận tội của bị cáo tai phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tai cơ quan điều tra, lời khai của người bị hai, phù hợp với sơ đồ, biên bản khám nghiệm hiện trường và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tai phiên toà, có đủ cơ sở kết luận:
Hồi 12 giờ 15 phút ngày 11/11/2024, tai khu vực thôn Thuận Tốn, xã Đa Tốn, huyện K, Hà Nội, bị cáo T T V đã có hành vi trộm cắp 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream, màu nâu, BKS 29N1-147.60 có trị giá 9.500.000 đồng của anh P M H thì bị Công an bắt quả tang cùng tang vật. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi pham pháp luật, xâm pham quyền sở hữu tài sản của cá nhân nhưng vẫn thực hiện hành vi pham tội nhằm chiếm đoat tài sản của người khác. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”; tội pham và hình phat được quy định tai khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Viện kiểm sát nhân dân huyện K truy tố bị cáo theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Về hình phạt áp dụng đối với bị cáo:
Về tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội: Hành vi pham tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm pham đến tài sản thuộc sở hữu của người khác được pháp luật bảo vệ, gây bất bình trong quần chúng nhân dân và gây mất trật tự trị an tai địa phương. Bị cáo nhận thức được tác hai và hậu quả gây ra nhưng vẫn thực hiện hành vi pham tội với động cơ vụ lợi cá nhân.
Về nhân thân bị cáo: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự nhưng không có nơi cư trú rõ ràng hoặc nơi làm việc ổn định.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tai cơ quan điều tra cũng như tai phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải. Bị cáo pham tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiệm trọng. Như vậy, bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ quy định tai điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Tổng hợp nhận định ở trên, Hội đồng xét xử nhận thấy cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian bằng việc áp dụng hình phat tù có thời han để đảm bảo việc răn đe, giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng ngừa chung như đề nghị của đai diện Viện kiểm sát nhân huyện K tai phiên toà là phù hợp.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo có thể bị áp dụng hình phat bổ sung là phat tiền theo quy định tai khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo tai phiên toà thể hiện: Bị cáo là lao động tự do, thu nhập không ổn định nên không áp dụng hình phat bổ sung là phat tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015,
Cơ quan điều tra Công an huyện K đã trao trả chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream màu nâu, BKS: 29N1 - 147.60 cho anh P M H, nay không có tranh chấp nên Hội đồng xét xử không xét.
Về trách nhiệm dân sự: Người bị hai đã nhận lai tài sản bị chiếm đoat và không có yêu cầu về trách nhiệm dân sự của bị cáo nên Hội đồng xét xử không xét; nếu có tranh chấp sẽ giải quyết bằng vụ kiện dân sự khác khi các đương sự có yêu cầu và đảm bảo điều kiện theo quy định của pháp luật.
Về án phí: Bị cáo pham tội phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hai được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo T T V pham tội “Trộm cắp tài sản”.
2. Về hình phạt:
2.1. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phat bị cáo T T V 07 tháng tù, thời han tù tính từ ngày 11/11/2024.
2.2. Không áp dụng hình phat bổ sung là phat tiền đối với bị cáo T V V.
3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Cơ quan điều tra Công an huyện K đã xử lý vật chứng theo thẩm quyền, nay không có tranh chấp nên Hội đồng xét xử không xét.
4. Về trách nhiệm dân sự:
Người bị hai không có yêu cầu về trách nhiệm dân sự của bị cáo nên không xét; nếu có tranh chấp sẽ giải quyết bằng vụ kiện dân sự khác khi các đương sự có yêu cầu và đảm bảo điều kiện theo quy định của pháp luật.
5. Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 và Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội và Danh mục án phí, lệ phí Tòa án kèm theo,
Bị cáo T T V phải chịu 200,000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
6. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Bị cáo có quyền kháng cáo trong han 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị hai là anh P M H vắng mặt tai phiên toà có quyền kháng cáo trong han 15 ngày kể từ ngày được tống đat bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND thành phố Hà Nội; - VKSND thành phố Hà Nội; - VKSND huyện K; - Công an huyện K; - Chi cục THADS huyện K; - UBND xã B (thay cho Thông báo kết quả xét xử); - Những người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ, Văn phòng. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Như Trọng |